Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và kế hoạch năm 2013

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN| 17/12/2012 15:59

Tỉnh Đắk Nông thực hiện nhiệm vụ năm 2012 trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có những biến động phức tạp, nhiều khó khăn, thách thức đã tác động tiêu cực đến việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương...

BÁO CÁO

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2012 VÀ KẾ HOẠCH NĂM 2013


Đ/c Nguyễn Bốn, UVTVTU, Phó Chủ tịch UBND tỉnh báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và kế hoạch năm 2013 tại kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh khóa II, nhiệm kỳ 2011-2016

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH

PHÁT TRIỂNKINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2012

Tỉnh Đắk Nông thực hiện nhiệm vụ năm 2012 trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có những biến động phức tạp, nhiều khó khăn, thách thức đã tác động tiêu cực đến việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Được sự quan tâm, hỗ trợ của Trung ương và sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, sự giám sát thường xuyên của HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã quyết liệt triển khai các giải pháp của Chính phủ, tập trung chỉ đạo khắc phục khó khăn, phát huy hiệu quả nội lực để thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 đề ra. Ủy ban nhân dân tỉnh xin báo cáo HĐND tỉnh về đánh giá tình hình kinh tế - xã hội năm 2012 với các nội dung chủ yếu sau:

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Chỉ tiêu kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) theo giá cố định ước thực hiện: 12,35% (KH 12,2%). Trong đó, nông lâm nghiệp tăng 7,93%, công nghiệp - xây dựng tăng 17,34%, dịch vụ tăng 17,39%.

- Cơ cấu kinh tế: tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp giảm từ 61,60% (năm 2011) xuống còn 56,89%; công nghiệp - xây dựng tăng từ 19,53% lên 21,48%, dịch vụ từ 18,86% lên 21,63%.

- Thu nhập bình quân đầu người (giá HH) 27,23 triệu đồng, vượt 27,75% KH.

- Sản lượng lương thực 336.654 tấn, chỉ đạt 98,46%KH.

- Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 515 triệu USD, vượt 19,77% KH (thực tế phát sinh xuất khẩu sản phẩm trên địa bàn tỉnh chiếm khoảng 30% giá trị kim ngạch XK). Nhập khẩu ước đạt 27 triệu USD, vượt 22,72% kế hoạch.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa trên địa bàn đạt 8.200 tỷ đồng, vượt 2,5% KH.

- Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 9.736 tỷ đồng, vượt 14,54% KH.

- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 1.312 tỷ đồng, vượt 7% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 22,2% so với năm 2011. Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 4.076 tỷ đồng, đạt 112% dự toán (tăng 19,8% so với năm 2011).

- Các chỉ tiêu: Nhựa hóa tỉnh lộ; bon, buôn có 1-2 km đường nhựa; tỷ lệ thôn, bon, buôn có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ được sử dụng điện đều hoàn thành kế hoạch.

Trong các chỉ tiêu nêu trên, có 09 chỉ tiêu vượt KH, 03 chỉ tiêu đạt 100%KH, còn 03 chỉ tiêu chưa đạt KH đề ra đó là: Sản lượng lương thực 336.654 tấn (KH 341.905, bằng 98,46%KH),nhựa hóa đường huyện đạt 68% (KH 70%) và đảm bảo nguồn nước tưới cho diện tích có nhu cầu tưới 50% (KH 52%).

            2. Chỉ tiêu văn hóa - xã hội

- Hoàn thành chỉ tiêu phổ cập THCS xã, phường, thị trấn; số trường học ở các cấp được công nhận đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ trẻ em 05 tuổi đi học mẫu giáo; số xã, phường phổ cập mầm non 05 tuổi là 15 xã;

- Mức giảm tỷ lệ sinh 01‰ (đạt 100% KH), tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vượt kế hoạch (thực hiện 1,02%/1,52% KH);

- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn có trạm y tế đạt chuẩn 74,6%; số giường bệnh trên một vạn dân 17,58 giường; số bác sỹ trên một vạn dân 5,2 bác sỹ; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đạt 24,2%; tỷ lệ tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đạt hơn 90% đều đạt kế hoạch. Tỷ lệ xã chuẩn quốc gia về y tế theo tiêu chí mới đạt 10%;

- Tỷ lệ hộ nghèo còn 23,8%, giảm so với năm 2011 (26,8%).

- Số lao động được giải quyết việc làm 17.250 người, đạt 100% KH; đào tạo nghề 11.000 người, vượt 10%KH;

- Tất cả các chỉ tiêu về văn hóa đều đạt 100% kế hoạch đề ra: Tỷ lệ xã, phường, thị trấn văn hóa đạt 13%; tỷ lệ bon, buôn, tổ dân phố văn hóa đạt 58%; tỷ lệ hộ gia đình đạt danh hiệu văn hóa đạt 74%; tỷ lệ cơ quan văn hóa đạt 81%.

- Tỷ lệ xã có đài truyền thanh cơ sở, phủ sóng truyền hình bon buôn đạt 100%.

3. Chỉ tiêu quốc phòng, an ninh: An ninh chính trị ổn định, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn và vượt biên trái phép; đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Lực lượng vũ trang được kiện toàn, củng cố toàn diện.

Triển khai năm an toàn giao thông 2012, UBND tỉnh đã quyết liệt chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. Kết quả: đã kiềm chế và giảm thiểu đáng kể số vụ tai nạn giao thông (Tính đến cuối tháng 11/2012, tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm 2011 (52/64 vụ)). Tỉnh Đắk Nông là 01 trong 10 địa phương được Chính phủ biểu dương đã giảm tai nạn giao thông trong 5 năm liên tục.

II. KẾT QUẢ CỤ THỂ Ở CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC

A. Lĩnh vực kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp

Thực hiện chủ trương rà soát lại diện tích cây trồng nên sản lượng có tăng: cà phê ước đạt 210 ngàn tấn (bằng 146%KH); cao su mủ tươi 13,564 ngàn tấn (bằng 113% KH). Giá trị gia tăng ngành nông, lâm nghiệp năm 2012 tăng khoảng 7,93% so với năm 2011 (vượt KH: 2.749/2.547 tỷ đồng). 

Trồng trọt: Tổng diện tích cây trồng 298,9 nghìn ha, vượt 14,54%KH. Sản lượng lương thực 336.654 tấn, đạt 98,46%KH. Nguyên nhân sản lượng lương thực giảm là do trong thời gian qua giá hồ tiêu, cà phê ổn định ở mức cao nên người dân tập trung vốn, nhân lực phát triển mạnh 02 loại cây trồng này, ít chú trọng tới việc phát triển các loại cây trồng ngắn ngày.

Về chăn nuôi thú y: Đã triển khai 02 đợt tiêm phòng chính là tiêm phòng vắc xin dại chó, mèo và tiêm phòng vắc xin LMLM năm 2012. Điều kiện thời tiết khí hậu, dịch bệnh trên vật nuôi diễn ra khá phức tạp trong những tháng đầu năm; tuy nhiên, các cấp, các ngành đã chủ động tập trung chỉ đạo triển khai các biện pháp hữu hiệu, đồng bộ phòng, chống dịch bệnh không để bùng phát thành dịch lớn, giảm thiệt hại cho ngành chăn nuôi nên đàn gia súc, gia cầm vẫn phát triển ổn định và có xu hướng tăng trở lại, để cung cấp cho thị trường vào dịp Tết Nguyên đán. Đến nay, tổng đàn trâu bò: 30.500 con, đàn lợn: 140.000 con; đàn gia cầm: 1.260.000 con.

Về thủy sản: Tổng diện tích nuôi trồng 1.094 ha, vượt 14% KH (tăng 167 ha so với năm 2011); sản lượng đạt trên 3.100 tấn, vượt 15% KH (tăng 563 tấn so với năm 2011).

Công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng trong mùa khô và kiểm tra, điều tra, xử lý các trường hợp vi phạm lâm luật được triển khai tích cực, nhưng hiệu quả còn thấp. Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn diễn ra phức tạp, số vụ phá rừng diễn ra nhiều nhưng chưa kịp thời phát hiện để xử lý (trong năm phát hiện 288 vụ phá rừng, diện tích bị phá 187,84 ha).

Công tác trồng rừng đạt 1.400 ha, vượt kế hoạch đề ra (KH 830 ha).

* Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới

Về công tác lập quy hoạch: 61/61 xã đã phê duyệt quy hoạch, đạt 100% kế hoạch. Các huyện Đắk Mil, Tuy Đức, Đắk Song là những huyện hoàn thành công tác quy hoạch sớm nhất; thị xã Gia Nghĩa là địa phương chậm triển khai lập quy hoạch theo tiến độ chung của tỉnh, tuy nhiên đến nay đã phê duyệt xong quy hoạch của 03 xã trên địa bàn.

Tình hình thực hiện tại 06 xã điểm: các xã điểm đã hoàn thành quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức đã phê duyệt Đề án; xã Đức Minh, huyện Đắk Mil đã thẩm định xong Đề án; xã Nam Dong, huyện Cư Jút đang thẩm định; 03 xã còn lại đang lập Đề án.

Tiến độ lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh về cơ bản đảm bảo thời gian quy định (Đắk Nông được đánh giá là một trong 10 tỉnh đầu tiên của cả nước hoàn thành công tác lập quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới). Tuy nhiên, tiến độ xây dựng đề án vẫn còn chậm, chất lượng quy hoạch chưa đảm bảo, nguyên nhân chính do trình độ và nhận thức của cán bộ, đảng viên ở các xã, thôn, bon và người dân về Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới còn hạn chế; vẫn còn lãnh đạo một số huyện, thị xã chưa thật sự quan tâm chỉ đạo thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới; ngoài ra do kinh phí lập quy hoạch và xây dựng đề án còn thấp và thiếu.

* Thực hiện chương trình nông nghiệp công nghệ cao

Chỉ đạo triển khai lập quy hoạch Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại khu đất (khoảng 120 ha) thuộc địa bàn thôn Nâm Rạ, xã Đắk Nia, thị xã Gia Nghĩa.

Kết quả triển khai thí điểm các mô hình nông nghiệp đạt kết quả khá tốt như: mô hình trồng Cam Cara tại xã Đắk P’lao, huyện Đắk G’long; mô hình nuôi gà Lương Phượng tại thị xã Gia Nghĩa; mô hình trồng măng tây xanh tại huyện Đắk Song, Tuy Đức và mô hình trồng hoa lily tại các huyện: Tuy Đức, Đắk R’lấp, Đắk Mil và Đắk Song. Nhìn chung, việc triển khai các mô hình thí điểm đều diễn ra thuận lợi, hiệu quả và phù hợp với điều kiện của địa phương, trong thời gian tới sẽ nghiên cứu, tìm đầu ra ổn định cho các sản phẩm trên để làm cơ sở nhân rộng triển khai.

Phối hợp với Hiệp hội Cà phê, Ca cao Việt Nam, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên thực hiện chương trình tái canh cây cà phê, kết quả đã thực hiện gieo ươm và cấp phát miễn phí 550.200 cây cà phê con đạt tiêu chuẩn phục vụ tái canh cây cà phê (khoảng 500 ha). Công ty Nông sản và Dược liệu sạch Đắk Nông đang thực hiện mô hình trồng cây dược liệu, quy mô 10 ha cây Đinh lăng lá nhỏ, 10 ha cây Kim ngân hoa, 04 ha cây Ý dĩ, 0,9 ha cây Khổ sâm cho lá tại xã Đắk Ha và xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong.

2. Sản xuất công nghiệp, xây dựng: Ước giá trị sản xuất công nghiệp năm 2012 đạt 2.578 tỷ đồng (giá cố định 1994), bằng 98,59%KH, tăng 21,09% so với cùng kỳ năm 2011. Nguyên nhân không đạt kế hoạch là do một số sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản xuất của ngành không đạt kế hoạch đề ra, cụ thể: sản phẩm MDF của Công ty CP kỹ nghệ gỗ Long Việt chỉ đạt 20%KH (do hàng hóa tiêu thụ chậm, giá bán thấp, doanh nghiệp chỉ sản xuất cầm chừng); sản phẩm cồn của Công ty TNHH Đại Việt chỉ đạt 88,9%KH (do sự cố thiết bị máy móc); sản phẩm đậu phụng sấy giòn xuất khẩu của Công ty TNHH PAGODA và Tất Thắng cũng chỉ đạt 93,3%KH (do thiếu nguyên liệu sản xuất),…Giá trị sản xuất công nghiệp tuy có tăng trưởng nhưng chưa đạt kế hoạch đề ra,tỷ trọng vẫn còn thấp trong GDP.

3. Hoạt động dịch vụ

Đảm bảo lưu thông hàng hóa, cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất khu vực dịch vụ đạt 12,5% (KH 10,78%).

Kim ngạch xuất khẩu đạt 515 triệu USD, vượt 19,77% KH (xuất khẩu sản phẩm trên địa bàn chiếm khoảng 30% giá trị kim ngạch XK). Nhập khẩu 27 triệu USD, đạt 122,72% KH, với các mặt hàng chủ yếu: điều, tiêu đen nguyên liệu. Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục được đẩy mạnh, hàng hóa xuất khẩu tăng dần tỷ trọng qua chế biến, giảm tỷ trọng xuất khẩu thô nhưng xuất khẩu thô vẫn là chủ yếu nên giá trị chưa cao; nhập khẩu về cơ bản đã phục vụ tốt cho nhu cầu.

Dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách tiếp tục phát triển, đáp ứng nhu cầu đi lại và giao thương của nhân dân. Vận chuyển hành khách 2,86 triệu lượt hành khách, tăng 28,7% về hành khách vận chuyển và 12,7% về hành khách luân chuyển. Vận chuyển hàng hóa 1,6 triệu tấn, tăng 26% về hàng hóa vận chuyển và 11% về hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ.

Dịch vụ bưu chính - viễn thông tiếp tục phát triển, từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng mạng lưới phục vụ đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đến nay, toàn tỉnh có 10 bưu cục 43 bưu điện văn hóa xã, 54 đại lý bưu điện đa dịch vụ, tổng số điểm phục vụ 107.

Hoạt động du lịch thuận lợi hơn so với năm trước, số lượng khách đến địa bàn đạt 119 ngàn lượt, tăng 12,7% so cùng kỳ năm 2011. Doanh thu 20.214 triệu đồng, tăng 50,7% so với cùng kỳ năm 2011.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã được kiềm chế, ước cả năm tăng 9,47%, giảm nhiều so với năm 2011 (19,65%) nhưng vẫn còn cao hơn mức bình quân chung cả nước (8%).

4. Công tác phát triển doanh nghiệp, thu hút đầu tư

Toàn tỉnh chỉ có 143 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (giảm 63% so cùng kỳ) tổng vốn đăng ký 465 tỷ đồng (giảm 70% so cùng kỳ); 56 doanh nghiệp chấm dứt hoạt động và giải thể.

Công tác thu hút đầu tư vào khu công nghiệp Tâm Thắng: trong năm 2012 đã thu hút được 03 dự án, với tổng vốn đăng ký là 161,4 tỷ đồng; tổng số dự án đã thu hút được: 31 (trong đó: 24 dự án đã hoạt động, 03 dự án đang xây dựng cơ bản và 04 dự án đăng ký đầu tư) với tổng vốn đăng ký đầu tư 1.330,5 tỷ đồng; vốn thực hiện 1.099,6 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp là 72,5%. Cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp huyện Đắk Mil đang hoàn thiện đầu tư hạ tầng để kêu gọi đầu tư, các cụm công nghiệp còn lại đang hoàn thiện thủ tục đầu tư.

Trong năm 2012, tỉnh đã vận động được 02 dự án ODA, tổng vốn trên 40 triệu USD, dự kiến bắt đầu triển khai vào năm 2013. Hiện tại, tỉnh đang triển khai 16 dự án ODA, mặc dù các cơ quan chủ quản, ban quản lý dự án rất nỗ lực trong việc đẩy nhanh tiến độ dự án nhưng tỷ lệ giải ngân vẫn còn thấp, nguyên nhân chủ yếu do năng lực quản lý dự án yếu và thiếu vốn đối ứng.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 06 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký 28,17 triệu USD, ước giải ngân trong năm là 11,38 triệu USD.

Tình hình triển khai Dự án Tăng cường năng lực kinh tế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Nông (do IFAD tài trợ): Ban quản lý dự án tỉnh và các huyện, thị xã đã phối hợp triển khai đồng bộ các hợp phần. Đến hết tháng 9/2012, đã giải ngân được 20/124,4 tỷ đồng, đạt 16,1% KH năm 2012.

Tình hình triển khai dự án Nhà máy Alumin Nhân Cơ (công suất 650.000 tấn/năm): cơ bản đã hoàn thành xong phần móng nhà máy và đang tập trung xây dựng nhà xưởng, chuẩn bị cho lắp đặt thiết bị. Nhà máy thủy điện Đồng Nai 5 (công suất 150MW): hiện đang tiến hành bồi thường giải phóng mặt bằng và dự kiến sẽ đưa vào hoạt động trong quý IV/2014. Dự án nhà máy thủy điện Đắk Sin 1 (công suất 27MW): hiện đang thi công, dự kiến hoàn thành đưa vào chạy thử trong quý IV/2013.

5. Lĩnh vực xây dựng, đầu tư hạ tầng giao thông

Hoàn thiện xin ý kiến và trình HĐND tỉnh đề án quy hoạch chung thị xã Gia Nghĩa, nâng cấp đô thị huyện Đắk Mil và thị trấn Kiến Đức (huyện Đắk R’lấp); đề án chính sách tạo quỹ đất ở và hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho cán bộ, công chức, viên chức và xây dựng chương trình phát triển nhà ở của tỉnh. Phân cấp quản lý hoạt động thoát nước trên địa bàn; phân công, phân cấp quản lý hệ thống đường trên địa bàn đô thị. Chỉ đạo thực hiện mục tiêu nhiệm vụ phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh theo Nghị quyết của Tỉnh ủy.

Điều chỉnh quy hoạch phát triển giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; hướng dẫn các huyện, thị xã chọn quy mô kỹ thuật đường giao thông nông thôn giai đoạn từ nay đến năm 2020. Sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng, khắc phục các điểm đen có nguy cơ gây tai nạn giao thông. Chấn chỉnh, xử lý những tồn tại trong công tác vận tải, quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về an toàn giao thông và công tác bảo vệ hành lang đường bộ.

6. Công tác tài nguyên môi trường

Hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất của tỉnh đến năm 2015 để trình Chính phủ; đồng thời chỉ đạo lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và cấp xã để kịp thời tổ chức triển khai ngay sau khi được phê duyệt.

Triển khai kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh được quan tâm chỉ đạo, góp phần ngăn chặn và hạn chế các vi phạm xảy ra. Nhận thức về công tác bảo vệ môi trường của cộng đồng đã được nâng lên.

Khai thác khoáng sản được quan tâm chỉ đạo, quản lý về quy trình thăm dò, khai thác và công tác bảo vệ môi trường. Công tác kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải được chú trọng triển khai thực hiện.

7. Đầu tư phát triển

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn 9.736 tỷ đồng (KH 8.500-10.560 tỷ đồng), tăng 19,8% so cùng kỳ; trong đó, vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 2.231,8 tỷ đồng (trong đó ngân sách cấp huyện 200 tỷ đồng), tăng 613,24 tỷ đồng so với năm 2011; ước giải ngân đến hết năm 2.075,6 tỷ đồng, đạt 93% KH.

8. Cân đối thu, chi ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 1.312 tỷ đồng, vượt 7% dự toán HĐND tỉnh, tăng 22,2% so cùng kỳ. Một số nguồn thu đạt cao như thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, từ khu vực công thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh, thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ….Tuy nhiên, tình hình nợ đọng thuế có xu hướng gia tăng (trên 360 tỷ đồng); địa phương đang quyết liệt chỉ đạo tăng cường công tác này.

Tổng chi ngân sách địa phương 4.076 tỷ đồng, đạt 112% dự toán (tăng 19,8% so với cùng kỳ). Nhìn chung chi ngân sách đảm bảo kế hoạch đề ra, đáp ứng cơ bản nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng.

B. Lĩnh vực văn hóa - xã hội

            1. Công tác giáo dục và đào tạo

Công tác giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển và đạt được một số kết quả quan trọng; quy mô trường lớp và chất lượng giáo dục nâng lên. Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2012 đạt 99,24%; trong đó, khối THPT đạt 99,5% và bổ túc 96,71%. Công tác phổ cập trung học cơ sở đạt mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, thực chất kết quả thi tốt nghiệp THPT năm học vừa qua ngành giáo dục và đào tạo cần phải nghiêm túc đánh giá lại một cách khách quan, để chấn chỉnh công tác thi cử trong các năm tiếp theo.

Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được chú trọng; đến nay, toàn tỉnh đã có 54 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 07 trường so với năm học trước. Phấn đấu xây dựng Trường THPT chuyên tỉnh Đắk Nông để đưa vào sử dụng trong học kỳ II năm học 2012 - 2013. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các cơ sở giáo dục đã được quan tâm đầu tư, tuy nhiên chưa đáp ứng được nhu cầu, cơ sở vật chất trường lớp còn quá thiếu, chưa đồng bộ, chất lượng giáo dục còn nhiều hạn chế, một số trường vùng sâu, vùng xa chưa có điện lưới quốc gia, công trình vệ sinh nước sạch. Nguyên nhân chính là do một số địa phương chưa thực sự quan tâm đúng mức và thiếu vốn đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non.

2. Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đã có những cải thiện đáng kể. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực của hệ thống các cơ sở y tế và những chỉ tiêu về sức khỏe đều hoàn thành và vượt kế hoạch.

Công tác khám chữa bệnh và phòng, chống dịch bệnh được quan tâm chỉ đạo thực hiện đồng bộ, có hiệu quả đặc biệt là việc phòng, chống dịch sốt xuất huyết, bệnh tay - chân - miệng, không để phát sinh thành dịch lớn. Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em, vì sự tiến bộ phụ nữ được quan tâm.

Các nguồn lực y tế đã được quan tâm đầu tư, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật y tế. Tuy nhiên, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân vẫn còn một số tồn tại: Chất lượng các dịch vụ khám chữa bệnh còn thấp; thái độ phục vụ của một bộ phận y, bác sỹ, cán bộ, nhân viên y tế ở một số cơ sở khám chữa bệnh còn thấp; thực hiện chế độ BHYT và viện phí còn nhiều bất cập; một số điểm dân cư của đồng bào di dân tự do chưa được cung cấp đầy đủ các dịch vụ y tế. Do thiếu vốn, các công trình bệnh viện đa khoa huyện đã phải giãn tiến độ nên không thể hoàn thành và đưa vào sử dụng; một số trạm y tế xã chưa được đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất, bị xuống cấp nghiêm trọng; giá thuốc còn cao…

3. Văn hoá, thể dục - thể thao, thông tin và truyền thông

Tổ chức các hoạt động thiết thực, hiệu quả đã tạo được tiếng vang lớn nhân sự kiện Lễ kỷ niệm 100 năm khởi nghĩa N’Trang Lơng, chương trình “Nghĩa tình Quảng Đức - Đắk Nông”. Đăng cai tổ chức các giải thể thao toàn quốc; tham gia và đã dành được Huy chương trong 12 giải thể thao khu vực và toàn quốc (đạt được 18 Huy chương các loại: 04 HCV, 05 HCB và 09 HCĐ). Các giải thể thao phong trào được tổ chức thường xuyên, đã thu hút đông đảo cán bộ, công chức và quần chúng tích cực tham gia. Đã triển khai tốt các chủ trương của Đảng và Nhà nước về chống bạo hành trong gia đình, nhằm xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ.

Công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến đường lối chính sách của Đảng, thông tin kinh tế - xã hội tiếp tục được tăng cường. Công tác thông tin báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình tiếp tục được đẩy mạnh, đảm bảo thông tin nhanh, kịp thời và nâng cao chất lượng tuyên truyền.

Các hoạt động thông tin - tuyên truyền, văn nghệ… được tổ chức với nhiều hình thức phong phú, mang lại hiệu quả thiết thực, tạo không khí sôi nổi rộng khắp; công tác hướng dẫn nghiệp vụ cho hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao luôn được chú trọng đã  góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hoá trong các tầng lớp nhân dân và phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị của tỉnh.

4. Thực hiện các chính sách an sinh xã hội, dạy nghề giải quyết việc làm

Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, chính sách an sinh xã hội, trọng tâm là tạo việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 23,8% theo tiêu chí mới (năm 2011: 26,8%), thu nhập bình quân đầu người (giá hiện hành) tăng cao so với kế hoạch đề ra đạt 27,23 triệu đồng (KH 21,31 triệu đồng).

Đã giải quyết việc làm cho 17.250 lao động. Đào tạo nghề 11.000 lao động, tư vấn giới thiệu việc làm 2.800 lao động. Lập 295 dự án vay vốn, với số tiền 15,5 tỷ đồng, giải quyết việc làm 1.650 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 24,5%. Thực hiện dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo năm 2012 tại huyện Tuy Đức. Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại cần sớm khắc phục đó là: Cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề còn thiếu, nội dung, phương pháp dạy nghề còn nhiều hạn chế; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số giáo viên dạy nghề nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu,...

Năm 2012, tỉnh đã triển khai hỗ trợ nhà ở cho 1.062 hộ nghèo (theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg), từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn tài trợ của các cơ quan, doanh nghiệp (Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam,...) Hiện nay, còn khoảng 3.000 hộ nghèo có nhu cầu cần tiếp tục hỗ trợ nhà ở trong những năm tiếp theo.

Thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với người có công. Tổ chức thăm, tặng 8.337 suất quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vươn lên học khá, giỏi là con thương binh, liệt sỹ, hộ nghèo với tổng giá trị hơn 520,83 triệu đồng; trao 50 suất học bổng cho trẻ em nghèo, trẻ em là người đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên học khá, giỏi với tổng số tiền 25 triệu đồng.

5. Công tác khoa học công nghệ

Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, thanh tra, thông tin khoa học và công nghệ được tăng cường và phát huy hiệu quả. Việc triển khai một số đề tài, dự án khoa học công nghệ đã tạo điều kiện liên kết giữa các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp và nông dân trong việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống.

Tuy nhiên vẫn còn nhiều đề tài, dự án khoa học công nghệ chưa thật sự phát huy được giá trị và đi vào thực tiễn cuộc sống; hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ còn hạn chế, chỉ tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc trước mắt, chưa mang tính lâu dài và thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển bền vữngkinh tế- xã hội.

            6. Thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo

Luôn được sự quan tâm đầu tư của của Đảng và Nhà nước thông qua: Chương trình hỗ trợ đất sản xuất và nước sinh hoạt, Chính sách hỗ trợ định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg,…nên đời sống của người dân là đồng bào dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến tích cực. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý cho người nghèo, dân tộc thiểu số tiếp tục được quan tâm. Nhìn chung, đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đều tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý điều hành của nhà nước, chấp hành nghiêm pháp luật, có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau.

Việc thực hiện các dự án giao đất, cho thuê chưa tốt, có ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, làm phát sinh tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, giải quyết của các cấp chính quyền chưa thấu đáo và dứt điểm, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chính quyền.

Hoạt động của các tôn giáo cơ bản đúng theo Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Việc quản lý công tác tôn giáo và giải quyết các nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào có đạo được các cơ quan chức năng thực hiện khá tốt.

C. Lĩnh vực quốc phòng an ninh - nội chính

1. Về xây dựng chính quyền, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước gắn với việc đổi mới phương thức điều hành của bộ máy hành chính, tạo sự công khai, minh bạch;nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước. Công tác cải cách hành chính đã được quan tâm chỉ đạo nhưng hiệu quả còn hạn chế, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức nhũng nhiễu dân, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và nhà nước, giảm sút lòng tin của nhân dân.

Việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng đặc biệt trong các lĩnh vực: cảnh sát giao thông, quản lý đất đai, xây dựng, quản lý vốn, tài sản của nhà nước tiếp tục được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Trong năm 2012, Công an tỉnh đã khởi tố 05 vụ vi phạm; Thanh tra tỉnh đã phát hiện 57 cơ quan, đơn vị có sai phạm, kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước trên 3,1 tỷ đồng, kiến nghị xử phạt hành chính 43 tổ chức, cá nhân vi phạm với số tiền 149 triệu đồng. Tuy nhiên, công tác phòng, chống tham nhũng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định đó là: Một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đúng mức; hiệu quả thực hiện một số giải pháp phòng, chống tham nhũng còn thấp, chưa được thực hiện thường xuyên và quyết liệt,...

Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến kịp thời chính sách của Đảng và Nhà nước đến người dân. Các cấp, các ngành có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin chính thức cho các cơ quan báo chí truyền thông, góp phần tạo đồng thuận trong tất cả các ngành, các cấp và toàn dân, nỗ lực phấn đấu hoàn thành kế hoạch đã đề ra.

Công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục được chú trọng. Tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật; tích cực thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo đúng quy định.

Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tình hình khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp ngày càng giảm, đặc biệt là sau khi Tổ công tác của Thanh tra Chính phủ phối hợp với UBND tỉnh rà soát lại các vụ khiếu nại tồn đọng, kéo dài trên địa bàn tỉnh, tình trạng công dân công dân kéo lên trụ sở các cơ quan của tỉnh được khắc phục. Niềm tin của người dân đối với Đảng và nhà nước được nâng lên.

2. Quốc phòng an ninh

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định. Lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh duy trì chặt chẽ chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, tuần tra canh gác bảo vệ an toàn các mục tiêu. Triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ quân sự - quốc phòng, giáo dục cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ. Bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, pháp luật nhà nước.

Lực lượng Công an tăng cường tổ chức tuần tra, kiểm soát, quản lý địa bàn, mở cao điểm tấn công, trấn áp các loại tội phạm.

            Năm 2012, tại nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đã được kiềm chế và giảm cả 03 tiêu chí; tính đến cuối tháng 11/2012, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 52 vụ tai nạn giao thông, làm chết 56 người và bị thương 24 người; so với cùng kỳ năm 2011 giảm 12 vụ (52/64 vụ), 15 người chết (55/70 người), 05 người bị thương (24/29 người).Chỉ đạo tổ chức triển khai các hoạt động hưởng ứng ngày tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông năm 2012; tổ chức thăm hỏi 08 nạn nhân, gia đình nạn nhân bị tai nạn giao thông có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh.

Công tác bảo vệ an ninh vùng biên giới được tăng cường, công tác phân giới cắm mốc được phối hợp chặt chẽ và thực hiện song phương giữa hai đội Việt Nam và Campuchia theo đúng kế hoạch năm 2012; đã chủ động nắm chắc diễn biến tình hình, xử lý kịp thời, có hiệu quả các vụ việc, đấu tranh phòng chống tội phạm đạt kết quả tốt, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh vùng biên giới.

Tuy nhiên, tình hình tội phạm chưa có xu hướng giảm, điển hình là các vụ phạm pháp hình sự, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép diễn biến phức tạp. Tình hình an ninh nông thôn, an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhất là vùng dân di cư tự do còn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, gây mất ổn định an ninh chính trị trên địa bàn.

  III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tình hình kinh tế, xã hội tỉnh ta trong năm 2012 còn những hạn chế, yếu kém đó là:

1. Kinh tế chưa vững chắc, cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, tỷ trọng nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ lớn (hơn 56%); lạm phát còn cao và có nguy cơ quay trở lại; nợ xấu gia tăng, xử lý chậm và còn nhiều khó khăn. Doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn, sản xuất cầm chừng, chưa hết công suất, hàng tồn kho tăng; tái cơ cấu doanh nghiệp chậm, nhiều doanh nghiệp nhà nước giữ một phần lớn vốn, tài sản, đất đai, tài nguyên nhưng hiệu quả đầu tư và tăng trưởng chưa tương xứng, thậm chí thường xuyên thua lỗ, gây thiệt hại tài sản nhà nước. Đầu tư xây dựng cơ bản hiệu quả chưa cao, nhiều công trình đầu tư còn lãng phí, thất thoát, chưa đồng bộ hạ tầng, kém chất lượng.

2. Việc xây dựng nông thôn mới và thực hiện chương trình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chậm triển khai, nhiều cấp, nhiều ngành chưa xác định nông thôn mới và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nhiệm vụ chính trị, là 02 mũi đột phá trong phát triển kinh tế và ổn định xã hội.

3. Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo và tái nghèo còn cao. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Chưa tạo được chuyển biến mạnh trong giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng lao động. Công tác khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân vẫn còn không ít khó khăn, y đức của một bộ phận y bác sỹ còn yếu; quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm chưa tốt. Quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo vẫn còn bất cập. Chất lượng giáo dục đào tạo không đồng đều, chạy theo thành tích, tỷ lệ đậu tốt nghiệp PTTH cao nhưng tỷ lệ đậu Đại học, Cao đẳng quá thấp. Phát triển giáo dục đào tạo ở các vùng khó khăn còn nhiều hạn chế.

4. Công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ vẫn chưa tạo được kết quả mang tính đột phá góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực này còn thấp, chưa có cơ chế phù hợp để huy động mạnh mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển khoa học và đổi mới công nghệ.

5. Công tác bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên khoáng sản còn hạn chế, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn thấp, nguồn lực cho bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng còn lúng túng, bất lực trước thủ đoạn, phương thức phá rừng của các đối tượng, sự phối kết hợp giữa các ngành chức năng công an, kiểm lâm, chính quyền chưa tốt nên quy mô phá rừng, lấn chiếm đất rừng không giảm, nhiều kiểm lâm, cán bộ trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép.

6. Cải cách hành chính còn nhiều yếu kém, hình thức. Công tác thanh tra, kiểm tra còn chồng chéo, chất lượng thấp. Một bộ phận cán bộ, công chức yếu kém về năng lực, phẩm chất, lạm dụng quyền hạn, vi phạm pháp luật. Kết quả phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm còn hạn chế.

Tình hình trên đây có nguyên nhân khách quan nhưng những khuyết điểm chủ quan trong quản lý điều hành ở các cấp, các ngành là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp, kỷ cương, kỷ luật hành chính nhiều cơ quan đơn vị còn yếu, không nghiêm, việc đùn đẩy trách nhiệm, chậm thực hiện chỉ đạo của cấp trên làm giảm hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước đã tồn tại nhiều năm, cần sớm khắc phục.

Nhìn tổng quát, nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ tỉnh, sự giám sát của HĐND tỉnh, sự chỉ đạo điều hành quyết liệt của UBND tỉnh và chính quyền các cấp, cùng với sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị và nhân dân, chúng ta đã vượt qua những khó khăn, cơ bản hoàn thành chỉ tiêu chủ yếu đề ra cho năm 2012, hầu hết các chỉ tiêu đạt 100% kế hoạch, nhiều chỉ tiêu quan trọng đạt trên 100%, trong đó có 02 chỉ tiêu gần đạt kế hoạch đề ra cho giai đoạn 5 năm, như thu nhập bình quân đầu người (đạt 27,23 triệu đồng, kế hoạch đến 2015 là 27,43 triệu đồng/người), kim ngạch xuất khẩu (đạt 515 triệu USD, kế hoạch là 550 triệu USD), chỉ có 03 chỉ tiêu: Sản lượng lương thực 336.654 tấn (KH 341.905, bằng 98,46%KH), nhựa hóa đường huyện đạt 68% (KH 70%) và đảm bảo nguồn nước tưới cho diện tích có nhu cầu tưới 50% (KH 52%) gần đạt kế hoạch của năm 2012; nguyên nhân chính dẫn đến các chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch là do yếu tố khách quan: Chính phủ giảm đầu tư công, giá tiêu, cà phê ở mức cao nên người dân tập trung trồng,... Lạm phát được ngăn chặn hiệu quả, kinh tế tăng trưởng ổn định. Các lĩnh vực văn hóa xã hội, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Chính trị xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội được bảo đảm.

 Những kết quả trên đây đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cao hơn trong những năm tiếp theo. UBND tỉnh cũng nghiêm túc nhìn nhận rằng, việc khắc phục những khuyết điểm, yếu kém, nâng cao chất lượng tăng trưởng và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững vẫn là những thách thức lớn, đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc và quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị trong năm 2013 và những năm tiếp theo.

Phần thứ hai

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2013

Năm 2013 là năm thứ 3 thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X và là năm bản lề thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020 của cả nước và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 của tỉnh.

Bước vào năm 2013, bên cạnh những thuận lợi, dự báo nền kinh tế của tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức trước những diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro của kinh tế trong nước và thế giới. Sức cạnh tranh các sản phẩm nông nghiệp thấp, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển; nguồn vốn đầu tư phát triển còn quá ít chủ yếu là dựa vào sự hỗ trợ của ngân sách Trung ương; hoạt động quảng bá xúc tiến đầu tư chưa thật sự có hiệu quả, chưa thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư; nhiều dự án, nhà máy đang gặp khó khăn về vốn, thị trường tiêu thụ nên sản xuất bị đình trệ, không có sản phẩm mới tạo đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Đời sống của bộ phận nhân dân các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới còn nhiều khó khăn, nơi ở phân tán, chưa có điều kiện về nguồn lực để sắp xếp về vùng quy hoạch. Tình trạng dân di cư tự do vẫn còn tiếp diễn dẫn đến tình trạng trật tự xã hội phức tạp và nạn chặt phá rừng làm rẫy vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi. Việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn thấp, giáo dục và đào tạo, cải thiện môi trường, chăm sóc sức khỏe nhân dân chưa đáp ứng được yêu cầu.

I. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2013

            1. Mục tiêu tổng quát

Trong năm 2013, bám sát Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ X, nhiệm kỳ 2010 - 2015 Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết của HĐND tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, giai đoạn 2011 - 2015, trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2012, Uỷ ban nhân dân tỉnh đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét xác định năm 2013 là năm hành động kỷ niệm 10 thành lập tỉnh, với mục tiêu tổng quát như sau:

Tăng trưởng kinh tế cao hơn, lạm phát thấp hơn năm 2012. Đẩy mạnh thực hiện 02 nhiệm vụ tập trung, 03 đột phá, gắn với nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Hoàn thành cơ bản các công trình trọng điểm chào mừng kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Phát triển đồng bộ sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa - xã hội, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo. Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tạo nền tảng phát triển vững chắc hơn cho những năm tiếp theo.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

            a) Các chỉ tiêu kinh tế

- Tăng trưởng kinh tế (giá 1994) đạt 12,5%; trong đó: Công nghiệp - xây dựng tăng 15,97%; dịch vụ tăng 16,5%; nông - lâm nghiệp tăng 8,96%;

- Thu nhập bình quân đầu người (theo giá hiện hành): 30,6 triệu đồng;

- Cơ cấu GDP của các ngành (giá hiện hành): Công nghiệp xây dựng 22,82%; dịch vụ 23,09%; nông, lâm, ngư nghiệp 54,09%;

- Sản lượng lương thực có hạt đạt 338.585 tấn;

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 570 triệu USD, tăng 10,7% so với ước thực hiện 2012. Tổng kim ngạch nhập khẩu 29 triệu USD, tăng 7,4% so với ước thực hiện năm 2012;

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá trên đạt 9.200 tỷ đồng, tăng 12,2% so với ước thực hiện năm 2012;

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phấn đấu từ 11.000 - 12.000 tỷ đồng;

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 1.560 tỷ đồng (tăng 18,9% so với ước thực hiện 2012); tổng chi ngân sách địa phương 4.086,7 tỷ đồng;

- Lạm phát dưới 08%;

- Phát triển cơ sở hạ tầng: Tỷ lệ nhựa hoá đường giao thông: tỉnh lộ 92%, huyện lộ 70%, 1-2 km đường bon/buôn 69%; tỷ lệ đáp ứng nguồn nước tưới cho diện tích có nhu cầu 64%; tỷ lệ hộ sử dụng điện 93%; tỷ lệ bon, buôn có điện lưới quốc gia 100%.

            b) Các chỉ tiêu văn hoá - xã hội, môi trường

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,02%; mức giảm sinh 1%o.

- Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế 15%.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng 22,80%.

- Số giường bệnh/vạn dân 17,58 giường.

- Số bác sỹ/vạn dân 5,7 bác sỹ.

- Tỷ lệ tiêm chủng mở rộng cho trẻ em trên 90%.

- Tỷ lệ xã phổ cập trung học cơ sở 100%.

- Số trường học ở các cấp học mới được công nhận đạt chuẩn quốc gia 7 trường; tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi học mẫu giáo 95%; số xã, phường phổ cập mầm non 5 tuổi là 25 xã.

- Giảm 03% số hộ nghèo cả tỉnh, 05% đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số.

- Giải quyết việc làm 17.750 người; đào tạo nghề 15.000 người; tỷ lệ lao động qua đào tạo 35,5%.

- Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh 82%.

- Tỷ lệ độ che phủ rừng 49%;

- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn văn hoá 16%; tỷ lệ bon/buôn, tổ dân phố văn hoá đạt 60%; tỷ lệ hộ gia đình đạt danh hiệu văn hóa 78%; cơ quan văn hóa 85%.

c) Chỉ tiêuquốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội

Tiếp tục giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn và vượt biên trái phép. Tiếp tục kiện toàn củng cố cả về chính trị tư tưởng và tổ chức cho lực lượng vũ trang. Tổ chức diễn tập cấp tỉnh theo cơ chế 28/BCT đạt kết quả tốt. Kiềm chế và giảm thiểu tai nạn giao thông.

             3. Các nhiệm vụ trọng tâm

a) Về kinh tế: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động; tạo sự chuyển biến mạnh về chất lượng tăng trưởng, hướng tới phát triển nhanh và bền vững. Chủ động thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông, lâm nghiệp, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Xây dựng, phát triển mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp chất lượng cao và mô hình thâm canh, tăng năng suất, góp phần tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích.

Tập trung cho nhiệm vụ phát triển công nghiệp khai khoáng, đôn đốc Tập đoàn CN Than - Khoáng sản đẩy nhanh tiến độ thi công để đưa nhà máy Alumin Nhân Cơ vào hoạt động. Đồng thời khuyến khích phát triển ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ công nghiệp khai thác Bô xít. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch. Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển; trong đó, chú trọng đẩy mạnh đầu tư các dự án có hiệu quả, các công trình hạ tầng quan trọng. Đảm bảo cân đối thu - chi ngân sách nhà nước, cân đối cung cầu hàng hóa và các cân đối lớn khác, đẩy mạnh xuất khẩu. Kiểm soát hiệu quả tình hình giá cả thị trường. Tập trung đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh, cải thiện chỉ số PCI, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Triển khai phương án sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN tỉnh.

b) Về khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và các lĩnh vực văn hóa xã hội: Nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ. Tích cực triển khai chiến lược phát triển giáo dục và chương trình hành động thực hiện Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh. Thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và phong trào thi đua trong ngành giáo dục; từng bước thu hẹp khoảng cách về chất lượng giáo dục và điều kiện học tập giữa các vùng khó khăn với vùng đô thị. Khắc phục ngay tình trạng trường học thiếu nhà vệ sinh. Nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ y tế, nhất là cán bộ chuyên khoa cho tuyến tỉnh, huyện. Đẩy mạnh xã hội hóa để huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là công tác xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, đào tạo nghề nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc; bảo đảm trật tự an toàn giao thông.

c) Về bảo vệ tài nguyên và môi trường: Có biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về môi trường, khai thác khoáng sản trái phép. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên. Chủ động triển khai các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, có biện pháp tích cực hạn chế thiệt hại ở những vùng thường xảy ra thiên tai. Đẩy mạnh xã hội hoá và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về công tác bảo vệ môi trường. Tập trung thực hiện tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư, nghiên cứu phương án xây dựng quỹ đất sạch để kêu gọi, thu hút đầu tư.

d) Về quản lý nhà nước, cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng chống tham nhũng: Triển khai có hiệu quả kế hoạch cải cách hành chính tỉnh giai đoạn 2012 - 2015; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, tiếp tục cải cách chế độ công vụ. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát; xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ, việc vi phạm theo quy định của pháp luật.

đ) Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Nâng cao chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, công tác thông tin tuyên truyền; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thông tin, tuyên truyền với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh theo kế hoạch đề ra.

e) Tổ chức các hoạt động thiết thực để chào mừng 10 năm thành lập tỉnh.

4. Các chương trình trọng điểm

Năm 2013 các ngành, các cấp tập trung ưu tiên tổ chức triển khai thực hiện các chương trình trọng điểm sau:

1) Chương trình phát triển đô thị; trọng tâm là đô thị Gia Nghĩa, Đắk Mil và Kiến Đức.

2) Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

3) Chương trình phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, trọng tâm là phát triển công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến, công nghiệp thủy điện.

4) Chương trình phát triển nguồn nhân lực tỉnh.

5) Chương trình xây dựng nông thôn mới.

6) Chương trình xây dựng phát triển toàn diện 39 bon, buôn trọng điểm.

7) Chương trình hỗ trợ đất ở cho cán bộ, công chức tuyển dụng, tiếp nhận từ năm 2004 - 2010.

8) Chương trình giảm nghèo bền vững.

9) Chương trình phát triển dịch vụ du lịch.

10) Chương trình phát triển giáo dục, y tế, văn hóa xã hội.

11) Chương trình cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí.

12) Chương trình chỉ đạo khắc phục những tồn tại, hạn chế của tỉnh qua kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI).

            II. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC CHỦ YẾU

1. Lĩnh vực kinh tế

1.1. Phát triển nông, lâm nghiệp

Trồng trọt: Tập trung cải tiến, nhân rộng các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất cây trồng; triển khai áp dụng các quy trình sản xuất nâng cao chất lượng hàng hóa, đảm bảo an toàn thực phẩm để cung cấp cho các siêu thị, trung tâm thương mại...., đồng thời tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa ổn định.

Ổn định diện tích lúa cả năm khoảng 16-16,4 ngàn ha, ngô 47 ngàn ha, tiêu 8,5 ngàn ha. Giảm diện tích điều còn 16-17 ngàn ha. Tiếp tục rà soát quy hoạch để mở rộng diện tích cây cao su. Xây dựng lộ trình để điều chỉnh giảm diện tích cà phê; chuyển đổi các loại cây trồng có thu nhập thấp. Triển khai quy hoạch và thực hiện quy hoạch các vùng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trên địa bàn.

Chăn nuôi, thủy sản: Khuyến khích phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng tập trung trang trại lớn kết hợp với trang trại vừa và nhỏ, chăn nuôi hộ gia đình tùy theo điều kiện từng địa phương. Khai thác có hiệu quả diện tích mặt nước các hồ chứa, công trình thủy lợi, thủy điện để nuôi trồng thủy sản. Tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi và thủy sản trong cơ cấu nông nghiệp, gắn với chế biến sản phẩm và xử lý chất thải. Kiểm soát chặt chẽ việc giết mổ, vận chuyển gia súc, gia cầm đồng thời tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh.

Thủy lợi: Sửa chữa, nâng cấp, duy tu, bảo dưỡng các công trình thủy lợi theo chương trình đề ra.

Lâm nghiệp: Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế, chế biến lâm sản, nhất là hàng lâm sản xuất khẩu. Hạn chế tình trạng xâm canh, chặt phá, khai thác gỗ trái phép, ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất rừng, phá rừng trái phép; khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đặc biệt là đối với các đơn vị chủ rừng, chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm.

Chương trình nông nghiệp công nghệ cao:Hoàn thiện quy hoạch Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh; xây dựng, ứng dụng và nhân rộng các mô hình trình diễn tiến bộ khoa học kỹ thuật; xây dựng hệ thống chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trên địa bàn các huyện và vùng sinh thái, trọng tâm là các cây trồng vật nuôi có lợi thế cạnh tranh. Hoàn thiện quy hoạch chi tiết, phân kỳ đầu tư phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách và hoàn chỉnh hồ sơ để triển khai đầu tư xây dựng Trung tâm ứng dụng công nghệ cao tại thị xã Gia Nghĩa vào năm 2014.

Xây dựng nông thôn mới: Tiếp tục đẩy mạnh Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên toàn tỉnh, đặc biệt là 06 xã điểm để tổng kết, nhân rộng mô hình cho các xã còn lại; nâng cao chất lượng các đề án để đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện của địa phương. Các ngành, các cấp tập trung ưu tiên nguồn lực để triển khai đề án xây dựng nông thôn mới đạt kết quả cao.

1.2. Phát triển công nghiệp

 Tập trung phát triển công nghiệp khai khoáng, vật liệu xây dựng với các nhà máy sản xuất gạch Tuy nen, gạch Block, vật liệu không nung; công nghiệp chế biến cà phê, cao su, điều, gỗ tinh chế,...Phối hợp với Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng để đưa nhà máy Alumin Nhân Cơ vào hoạt động cho sản phẩm. Hoàn thành công tác quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, nhất là sản xuất nguyên, phụ liệu phục vụ khai thác Bô xít.

Kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư vào khu, cụm công nghiệp đã đầu tư cơ sở hạ tầng như: Tâm Thắng, Nhân Cơ, Đắk Ha, Thuận An. Tăng cường triển khai và thực hiện có hiệu quả các chương trình khuyến công quốc gia và địa phương nhằm thúc đẩy công nghiệp nông thôn phát triển.

1.3. Phát triển các ngành dịch vụ

Phát triển du lịch: Tiếp tục phát triển hạ tầng dịch vụ du lịch, nhất là giao thông đến các khu, điểm du lịch. Khuyến khích kêu gọi đầu tư xây dựng hạ tầng các khu du lịch trọng điểm của tỉnh như: Khu du lịch Nâm Nung, Liêng Nung, Tà Đùng, cụm thác Đray sáp. Nâng cao hiệu quả và đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch. Đa dạng hoá sản phẩm du lịch, tạo ra sản phẩm độc đáo, đặc trưng của du lịch tỉnh. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng Đề án triển khai một số dự án du lịch, vui chơi giải trí phù hợp với tình hình thực tế địa phương, trình UBND tỉnh trong quý II/2013.

Phát triển thương mại: Thực hiện các biện pháp bình ổn thị trường, tăng cường kiểm tra, kiểm soát chống đầu cơ, nâng giá, sản xuất buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, buôn lậu, gian lận thương mại; xử lý nghiêm đối với hành vi vi phạm. Tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để sớm đầu tư xây dựng siêu thị tại thị xã Gia Nghĩa, thị trấn Đắk Mil; trong Quý II/2013, ngành Công thương phải báo cáo, đề xuất UBND tỉnh giải pháp bình ổn thị trường, khắc phục tình trạng giá cả trên địa bàn tỉnh tăng cao so với khu vực. Triển khai thực hiện Đề án đưa hàng Việt Nam về vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trường.

Hoạt động xuất nhập khẩu: Hỗ trợ, tạo điều kiện xuất khẩu những sản phẩm chủ lực như cà phê, tiêu, điều, chế biến gỗ, cồn công nghiệp...và một số sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống. Nâng cao tỷ trọng hàng xuất khẩu qua chế biến.

Phát triển dịch vụ bưu chính, viễn thông: Triển khai thực hiện Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015 và Chương trình phối hợp công tác thông tin, truyền thông đối ngoại tại các khu vực biên giới giai đoạn 2012-2020. Xây dựng hệ thống giao ban điện tử đa phương tiện giữa tỉnh với các huyện, nhằm giảm bớt giấy tờ, hội họp tập trung.

Phát triển dịch vụ ngân hàng: Khuyến khích phát triển đa dạng mạng lưới ngân hàng thương mại, tạo điều kiện để doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh và hộ gia đình tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển sản xuất, kinh doanh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng.

Dịch vụ vận tải: Phát triển dịch vụ vận tải công cộng có hệ thống vận chuyển thuận tiện; tăng cường dịch vụ vận chuyển về các điểm du lịch, khu và các cụm công nghiệp; mở rộng địa bàn phục vụ đến các vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn.

1.4. Quản lý công tác quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ

Đầu tư đồng bộ hạ tầng thiết yếu từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị Gia Nghĩa; phát triển hạ tầng nông nghiệp và nông thôn.

Về giao thông: Phối hợp đẩy nhanh tiến độ đầu tư nâng cấp Quốc lộ 14. Đẩy nhanh triển khai thực hiện các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm như: trục Bắc - Nam (giai đoạn 2), hoàn thành Tỉnh lộ 3, 4,… gắn với việc thường xuyên duy tu, bảo dưỡng; xúc tiến nguồn vốn để đầu tư đường tránh đô thị Gia Nghĩa, đường Đạo Nghĩa - Quảng Khê, đường Kiến Đức - Buprăng,...; huy động vốn đầu tư phát triển giao thông nông thôn. Xây dựng hoàn thành Bến xe liên tỉnh.

Tích cực thu hút và huy động tối đa các nguồn lực để ưu tiên phát triển hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp - dịch vụ và đô thị, nông nghiệp, nông thôn. Quan tâm thu hút các dự án đầu tư BT, BOT và theo hình thức hợp tác công - tư (PPP). Tận dụng tối đa các nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương, đặc biệt là vận động nguồn vốn ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị theo chương trình nâng cấp đô thị quốc gia giai đoạn 2009 - 2020. Trong năm 2013, tập trung đầu tư hoàn thành các trục đường chính như đường Bắc - Nam, đường Quang Trung, đường Đăm B’ri; các khu điểm dân cư, tái định cư; hệ thống cấp, thoát nước; trường THPT chuyên,…

Về thủy lợi: Hoàn thành các dự án chuyển tiếp, đôn đốc xây dựng dự án cụm thủy lợi Gia Nghĩa, cụm thủy lợi Đắk Rồ - Đắk Diêr,…Nâng cấp hệ thống kênh mương theo hướng bê tông hóa; cải tiến mô hình quản lý khai thác thủy nông theo hướng thuận lợi cho việc tưới tiêu theo nhu cầu của người dân.

Về nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường:Tiếp tục đầu tư hệ thống cấp nước sạch ở các xã; đầu tư các công trình cấp nước và vệ sinh công cộng trong các khu dân cư, các trường học; tiếp tục đầu tư các công trình cấp nước tập trung theo Quyết định số 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn nghiên cứu, xây dựng mô hình quản lý, khai thác sử dụng hiệu quả các công trình nước tập trung trong Quý II/2013.

Hạ tầng y tế, giáo dục: Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ các dự án nâng cấp, xây mới trạm y tế xã, bệnh viện đa khoa tuyến huyện và tiếp tục kêu gọi các nguồn vốn khác để đầu tư đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý, đưa toàn bộ hoặc một phần dự án vào hoạt động đối với các bệnh huyện đang đầu tư dở dang. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư trường chuyên tỉnh; huy động, lồng ghép các nguồn lực cho chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và nhà giáo viên, công trình vệ sinh trường học gắn với xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia; tìm kiếm nguồn vốn để khởi công Trường Cao đẳng cộng đồng...

Thu hút và vận động các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (ODA, NGO, FDI): Đẩy mạnh tiến độ thực hiện các dự án chuyển tiếp, tiếp nhận các dự án mới và tiếp tục kêu gọi các dự án khác.

Hoàn thành điều chỉnh và triển khai thực hiện quy hoạch chung xây dựng thị xã Gia Nghĩa do Tư vấn JINA Hàn Quốc thực hiện; hoàn thành công tác quy hoạch trung tâm huyện mới và chuẩn bị hồ sơ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất ban đầu để triển khai chia tách theo kế hoạch. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng công trình xây dựng; kiểm tra năng lực tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng.

Thực hiện tốt các cơ chế, các chính sách thu hút đầu tư của tỉnh để tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đầu tư vốn. Xây dựng các phương án tạo vốn từ quỹ đất để xây dựng cơ sở hạ tầng; khi xây dựng các dự án giao thông đô thị, đi qua các khu dân cư tập trung, phải xây dựng phương án tạo vốn từ quỹ đất, chỉnh trang đô thị. Thực hiện tốt Luật Đất đai, công tác đền bù, giải phóng mặt bằng.

Huy động đóng góp của nhân dân tham gia đầu tư các công trình giao thông, thủy lợi, trường học, nước sạch. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục thể thao, môi trường.

Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, xây dựng và công bố các chương trình và dự án thu hút đầu tư để định hướng cho nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia. Tiếp tục thực hiện chương trình hợp tác phát triển kinh tế với tỉnh Lâm Đồng, Bình Dương, tp Hồ Chí Minh, tỉnh Mondulkiri (Campuchia) và tỉnh Jeollanam Do (Hàn Quốc).

1.5 Tiếp tục thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Tập trung thực hiện đồng bộ các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư; tích cực thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ

Thực hiện đồng bộ các biện pháp giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, nhất là về vốn tín dụng, tìm kiếm và mở rộng thị trường, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu. Cải thiện mạnh hơn môi trường đầu tư kinh doanh; tiếp tục tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước.

Nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ; khuyến khích thu hút các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; thu hút doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động về địa bàn nông thôn.

Tăng cường công tác hậu kiểm, giám sát việc thực hiện các dự án đầu tư; kiên quyết thu hồi chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư, thu hồi đất đối với dự án vi phạm tiến độ đã cam kết.

1.6. Về quản lý tài chính ngân sách

Thực hiện các biện pháp để thu đúng, thu đủ các nguồn phải thu, trong đó chú trọng các nguồn thu từ sản xuất kinh doanh, thu nợ đọng thuế, thu tiền sử dụng đất. Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng công khai quy trình thủ tục; hỗ trợ, hướng dẫn, phục vụ tốt nhất cho người nộp thuế. Kiểm tra chống gian lận thuế qua giá, hạn chế tình trạng để doanh nghiệp khiếu kiện.

Quản lý chi tiêu hợp lý, đúng chế độ. Tiếp tục thực hiện khoán chi hành chính sự nghiệp cho các cơ quan, đơn vị. Thực hiện cơ chế hỗ trợ trên cơ sở nhiệm vụ và chất lượng dịch vụ đối với các đơn vị sự nghiệp. Tiếp tục xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp. Giải quyết kịp thời những ưu đãi của nhà nước đối với các cơ sở được xã hội hoá, các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh để huy động cao nhất các nguồn lực ngoài ngân sách cho mục tiêu phát triển.

Năm 2014, hướng tới Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh Đắk Nông, tỉnh sẽ hỗ trợ cho mỗi huyện, thị xã 3.000 triệu đồng để thực hiện chính sách an sinh xã hội; vì vậy, các huyện, thị xã ngay từ năm 2013 phải chủ động xây dựng kế hoạch triển khai.

1.7. Quản lý tài nguyên và môi trường

Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đảm bảo năm 2013 cơ bản hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ theo Nghị quyết của Quốc hội.

Tăng cường quản lý nhà nước; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng về bảo vệ tài nguyên và môi trường. Sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Triển khai chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.

Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản bảo đảm tài nguyên khoáng sản được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, giảm thiểu các tác động đến môi trường, bảo đảm an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội trong hoạt động khoáng sản. Tăng cường công tác thanh, kiểm tra các hoạt động khoáng sản, hoạt động sản xuất, kinh doanh có ảnh hưởng đến môi trường để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm.

1.8. Triển khai thực hiện đầy đủ và nhất quán nội dung Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ và Chỉ thị của UBND tỉnh về chấn chỉnh và tăng cường quản lý đầu tư xây dựng cơ bản

Trong bố trí vốn đầu tư xây dựng kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, đồng thời triển khai có hiệu quả kế hoạch đầu tư trung hạn theo hướng xác định cụ thể lĩnh vực ưu tiên, trước hết là tập trung vào một số ít các dự án đầu tư có vai trò tạo ra đòn bẩy tác động mạnh đến việc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh; lồng ghép các chương trình mục tiêu, các nguồn vốn để tập trung đầu tư, sớm đưa công trình vào sử dụng, tăng tính hiệu quả trong đầu tư, kích thích phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Nghiên cứu xây dựng cơ chế đặc biệt khuyến khích, ưu đãi và hỗ trợ tư nhân đầu tư đối với các ngành, lĩnh vực mà nhà nước chưa có khả năng đầu tư.

Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, thực hiện tất cả các khâu trong quá trình đầu tư để đẩy nhanh tiến độ thi công và tiến độ giải ngân vốn đầu tư phát triển; phải thường xuyên kiểm tra, chủ động tháo gỡ các khó khăn vướng mắc trong đầu tư xây dựng. Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Tổ chức thực hiện nghiêm túc việc giám sát đánh giá đầu tư trong phạm vi quản lý theo quy định. Việc phân bổ nguồn vốn ngân sách phải chú ý đến việc tạo điều kiện để huy động nguồn vốn khác ngoài ngân sách cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; ưu tiên vốn và tập trung chỉ đạo thực hiện các công trình chào mừng 10 năm thành lập tỉnh.

Phải quán triệt sâu sắc, có chương trình hành động cụ thể, lồng ghép đưa vào kế hoạch năm 2013 với 5 vấn đề tập trung mang tính đột phá đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh (khóa X), đó là: Tập trung phát triển nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; tập trung phát triển công nghiệp khai khoáng, chế biến và thủy điện; tập trung phát triển dịch vụ du lịch; tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu của tỉnh và đô thị hạt nhân; tập trung phát triển nguồn nhân lực.

2. Lĩnh vực văn hóa - xã hội

2.1. Giáo dục và đào tạo

Tổ chức tuyển chọn giáo viên bằng hình thức thi tuyển công khai ở tất cả các cấp học. Duy trì kết quả và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học. Chỉ đạo rà soát, dành một phần vốn để đầu tư xây dựng nhà vệ sinh cho các trường học chưa có nhà vệ sinh, xây dựng nhà công vụ cho giáo viên công tác tại vùng sâu, vùng xa.

Tăng cường đầu tư của nhà nước, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá việc huy động các nguồn lực cho phát triển giáo dục, đào tạo. Tiếp tục đầu tư xây dựng trường chuyên tỉnh Đắk Nông, Trung tâm GDTX tỉnh để đưa vào hoạt động theo kế hoạch.

Triển khai chiến lược phát triển giáo dục theo hướng đổi mới căn bản, toàn diện, chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. Tiếp tục triển khai thực hiện: Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, Đề án củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú giai đoạn 2011 - 2015.

2.2. Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân

Phát triển và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách quản lý, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Tăng cường kêu gọi, huy động các nguồn lực xã hội vào phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, mở rộng dịch vụ y tế. Đẩy mạnh công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, xây dựng xã, phường phù hợp với trẻ em.

Đào tạo đủ về số lượng, chất lượng, tăng cường luân phiên cán bộ giúp tuyến dưới, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; chú trọng công tác đào tạo cán bộ tại chỗ và nâng cao y đức, đấu tranh đẩy lùi các tiêu cực trong khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ các hoạt động khám chữa bệnh tư nhân, thuốc chữa bệnh; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng cường các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát dịch bệnh; phòng, chống nghiện ma tuý, nhiễm HIV; phát triển y học cổ truyền. 

Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh và ngăn ngừa mất cân bằng giới tính. Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ dân số gắn với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giáo dục về dân số, kế hoạch hoá gia đình, nhất là với đối tượng vị thành niên, thanh niên và người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho các trạm y tế, bệnh viện tuyến huyện sắp đi vào hoạt động. Tiếp tục thực hiện kết hợp quân dân y trong chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở vùng biên giới.

2.3. Văn hóa, thể dục thể thao, thông tin và truyền thông

Phát triển văn hoá gắn với phát triển du lịch và các hoạt động kinh tế. Tiếp tục tuyên truyền sâu rộng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; duy trì cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới; chống bạo lực gia đình. Xây dựng kế hoạch thực hiện Chiến lược văn hóa Việt Nam trên địa bàn đến năm 2020. 

Đa dạng loại hình và phương thức tổ chức thể dục thể thao gắn với các hoạt động văn hóa, du lịch, dịch vụ. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Huy động các nguồn lực xây dựng các thiết chế thể thao cơ sở gắn với hình thành thiết chế văn hóa cơ sở. Tập trung phát triển thể thao thành tích cao để từng bước nâng cao vị thế của thể thao tỉnh Đắk Nông.

2.4. Thực hiện các chính sách an sinh xã hội, dạy nghề, giải quyết việc làm

Tiếp tục lồng ghép nguồn lực, thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo; tạo cơ chế, chính sách cho các hộ cận nghèo vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo thoát nghèo bền vững.Tiếp tục thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo. Lồng ghép các chư­ơng trình phát triển kinh tế - xã hội với Ch­­ương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu lao động. Thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc.

Thực hiện phong trào đền ơn đáp nghĩa. Chăm lo hộ gia đình chính sách, người có công; huy động sự tham gia của cộng đồng giúp đỡ những người neo đơn tàn tật, không nơi nương tựa, những người bị nhiễm chất độc màu da cam, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những người thiệt thòi trong xã hội… Tuyên truyền, hướng dẫn nhằm giảm thiểu các thiệt hại do tai nạn, thiên tai, hạn chế tới mức thấp nhất người phải cứu trợ đột xuất.

2.5. Hoạt động khoa học và công nghệ

Tập trung triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng dụng và phát triển công nghệ cao giai đoạn đến năm 2020; Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ tại các vùng nông thôn giai đoạn đến năm 2015 nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ và triển khai thực hiện Đề án phát triển nông nghiệp công nghệ cao đến năm 2020.

Tạo lập thị trường dịch vụ khoa học công nghệ; khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao trình độ công nghệ đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, tạo lập thương hiệu cho các sản phẩm.

Tiếp tục đổi mới đồng bộ cơ chế quản lý và chính sách phát triển khoa học và công nghệ. Tạo môi trường thuận lợi cho việc gắn kết nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, giáo dục và đào tạo. Xây dựng chính sách sử dụng hiệu quả, trọng dụng và phát huy tài năng cán bộ khoa học và công nghệ. Triển khai các chương trình đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng nhằm sử dụng hiệu quả tiềm năng của địa phương cho phát triển, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm.

3. Lĩnh vực an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội - nội chính

An ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp đối với công tác quốc phòng, an ninh. Tiếp tục xây dựng, củng cố lực lượng dân quân, tự vệ; thực hiện tốt công tác tuyển quân, huấn luyện dân quân tự vệ và quân dự bị động viên năm 2013. 

Nâng cao chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động phát hiện, ngăn chặn mọi âm mưu chống phá, gây rối, bạo loạn của các thế lực thù địch. Tăng cường bảo vệ an ninh trên các lĩnh vực, địa bàn trọng điểm. Thực hiện có hiệu quả các chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, phòng chống ma tuý, buôn bán phụ nữ, trẻ em.

Chỉ đạo thực hiện các giải pháp mạnh, tăng cường tuần tra, kiểm soát việc chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông, hạn chế thấp nhất sự gia tăng tai nạn giao thông. Tổ chức giải toả hành lang an toàn giao thông đường bộ, các tụ điểm lấn chiếm, bán hàng vi phạm an toàn giao thông.

Đổi mới công tác tiếp dân, gắn tiếp dân với giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài; hạn chế tối đa khiếu kiện vượt cấp...Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân nhất là những xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh.

Công tác đối ngoại: Tiếp tục mở rộng các hoạt động đối ngoại và hợp tác phát triển với nước bạn Campuchia, với tỉnh Jeollanam Do, Hàn Quốc. Triển khai hoạt động kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản.

Cải cách hành chính: Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. Tiếp tục kiện toàn củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ quan hành chính nhà nước các cấp; nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cả về chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất chính trị và ý thức thái độ phục vụ. Đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với ứng dụng tin học và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO.

4. Chuẩn bị và thực hiện tốt các công việc liên quan để tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh Đắk Nông./.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và kế hoạch năm 2013
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO