VIDEO CLIP   |   BÁO ẢNH   |   NHỊP SỐNG 360
HOTLINE: 0834 244 333   |   THƯ VIỆN   |   ĐẶT LÀM TRANG CHỦ
quà tặng doanh nghiệp

Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam

Cập nhật ngày: 17/01/2019 | 09:18 GMT+7

Báo Đắk Nông trân trọng giới thiệu một số nội dung trong cuốn sách “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam” do Bộ Ngoại giao xuất bản năm 2017 tại Hà Nội.

Những năm qua, Việt Nam đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách và đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực quyền con người. Việt Nam đang tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy việc thụ hưởng ngày càng tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của nhân dân. Để giúp bạn đọc nắm bắt rõ hơn về luật pháp, chính sách, nỗ lực và thành tựu của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người, Báo Đắk Nông trân trọng giới thiệu một số nội dung trong cuốn sách “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam” do Bộ Ngoại giao xuất bản năm 2017 tại Hà Nội. Cuốn sách gồm 4 chương. Chương I: Quan điểm, chính sách và luật pháp của nhà nước Việt Nam về quyền con người; Chương II: Thành tựu của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người; Chương III: Hợp tác quốc tế trên lĩnh vực bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người; Chương IV: Thách thức và ưu tiên của Việt Nam trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người.

Ảnh minh họa

1. Quan điểm của Nhà nước Việt Nam về quyền con người

Quan điểm của Nhà nước Việt Nam về quyền con người có cội rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm của một dân tộc luôn coi trọng tinh thần hòa hiếu, khoan dung, nhân đạo, yêu chuộng hòa bình và các giá trị nhân văn. Đây là những giá trị văn hóa tiêu biểu đặc trưng của dân tộc Việt Nam được hun đúc, kết tinh trong cuộc sống, lao động, phát triển quan hệ với các quốc gia khác và đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm để giành cho mình những quyền và tự do cơ bản của con người.

Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do đó, mọi chủ trương, đường lối của Nhà nước Việt Nam đều hướng tới làm cho “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”; mọi chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước đều lấy người dân làm trung tâm, để đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu chính đáng của nhân dân.

Quan điểm, chủ trương của Nhà nước Việt Nam về quyền con người thể hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, quyền con người là khát vọng và giá trị chung của toàn nhân loại. Quyền con người mang tính phổ biến nhưng khi áp dụng cần phù hợp đặc thù của các quốc gia, dân tộc. Do đó, khi tiếp cận vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với các điều kiện đặc thù về lịch sử, xã hội, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, chế độ chính trị, trình độ phát triển ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia. Đồng thời, cần tiếp cận toàn diện, tổng thể tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị cũng như về kinh tế, xã hội, văn hóa.

Thứ hai, chủ quyền quốc gia, quyền dân tộc tự quyết, quyền con người có mối quan hệ mật thiết và thống nhất với nhau. Thực thi quyền con người phải dựa trên cơ sở bảo vệ quyền dân tộc tự quyết, chủ quyền quốc gia. Nếu dân tộc không được độc lập, chủ quyền quốc gia không được xác lập thì không thể có quyền con người.

Thứ ba, quyền con người là sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, giữa quyền và lợi ích cá nhân với quyền và lợi ích cộng đồng. Mọi người dân Việt Nam được thực hiện các quyền và tự do cá nhân mà pháp luật không cấm, nhưng việc thực hiện quyền và tự do cá nhân đó không được xâm phạm đến việc thụ hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và của cộng đồng.

Thứ tư, quyền con người liên quan mật thiết đến hòa bình, an ninh và phát triển; trong đó bảo đảm quyền con người là điều kiện tiên quyết để giữ gìn hòa bình, an ninh và phát triển bền vững; đồng thời một xã hội có hòa bình, ổn định và phát triển mới có thể tạo môi trường an toàn và nguồn lực cần thiết để bảo vệ và thúc đẩy thực sự các quyền con người.

Thứ năm, việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia. Các quốc gia có thể có những khác biệt trong cách tiếp cận về quyền con người. Đểthu hẹp khác biệt, tăng cường hiểu biết, Việt Nam ủng hộ đối thoại và mở rộng hợp tác về quyền con người, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau, đồng thời kiên quyết phản đối mọi biểu hiện áp đặt, sử dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.

2. Hiến pháp năm 2013 và những nội dung về quyền con người

Ở Việt Nam, quyền con người được ghi nhận trong Hiếp pháp và pháp luật. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013, có hiệu lực từ ngày 1/1/2014, thể hiện rõ ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân và bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Hiến pháp kế thừa và phát triển các chế định quyền con người, quyền công dân, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu chính đáng và ngày càng tăng về quyền tự do của nhân dân, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người.

Hiến pháp năm 2013 gồm 11 chương, 120 điều, trong đó có 36 điều ở Chương II chế định trực tiếp các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ngoài ra, Hiến pháp 2013 còn dành một số điều chế định sự bảo hộ hay bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản, sử dụng đất, lao động và việc làm (các Điều 51, 54, 57) . Hiến pháp 2013 mở rộng nội hàm chủ thể quyền, không chỉ là “công dân”, mà còn là “mọi người”. “tổ chức” hay nhóm xã hội và cộng đồng, đặc biệt là những nhóm xã hội dễ bị tổn thương.

Hiến pháp 2013 mở rộng nội dung về quyền, quy định rõ hơn các quyền đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1992, bao gồm: quyền bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 16); không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (khoản 1, Điều 20); bảo vệ đời tư (Điều 21); tiếp cận thông tin (Điều 25); tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); bình đẳng giới (Điều 26); quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29); được xét xử công bằng, công khai và không bị coi là có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 31; bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34)’ Công dân có quyền làm việc (Điều 35). Hiến pháp 2013 mở rộng chủ thể và nội dung quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về đời sống riêng tư (các Điều 20 và 21) so với Hiến pháp 1992 (chỉ quy định về quyền lợi bí mật thư tín, điện thoại, điện tín). Hiến pháp 2013 “nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới (Điều 26), thay đổi quan niệm và cách tiếp cận về bình đẳng giới so với Hiến pháp 1992 (chỉ quy định nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ).

Hiến pháp 2013 còn chế định một số quyền mới, như mọi người có quyền sống (Điều 19), các quyền về nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40), quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41), quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42), quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43), quyền không bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (khoản 2, Điều 17), quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22), quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34)…

Như vậy, Hiến pháp 2013 đã mở rộng phạm vi bảo vệ đối với các quyền con người, quyền công dân trên cả hai lĩnh vực dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa, đáp ứng những nhu cầu mới về quyền con người nảy sinh trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng cường hội nhập quốc tế và ngày càng cải thiện mức sống của người dân.

Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận cả ba nghĩa vụ của Nhà nước, tương ứng với các quy định về nghĩa vụ quốc gia theo luật nhân quyền quốc tế, đó là tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc về giới hạn quyền, theo đó “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14).

Đồng thời, Hiến pháp 2013 quy định “mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác”; “việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” (Điều 15). Các hạn chế về quyền nêu trên hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế về quyền con người.

3. Chính sách và nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Trên tinh thần đó, trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc, con người luôn được đặt ở trung tâm của mọi chiến lược, chính sách, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển đất nước.

Công cuộc Đổi mới toàn diện hiện nay ở Việt Nam dựa trên 3 trụ cột chính là: Tăng cường bền vững; tiến bộ và công bằng xã hội; pháp quyền và quyền con người. Chính sách nhất quán tôn trọng và bảo đảm các quyền con người nêu trên được lồng ghép vào mọi chiến lược và chương trình phát triển của đất nước nhằm đáp ứng khát vọng của nhân dân một nước đã từng là thuộc địa được hưởng đầy đủ các quyền tự do cơ bản và từng bước bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của người dân một nước đang phát triển còn khó khăn về nhiều mặt.

Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã triển khai các biện pháp đồng bộ, ưu tiên dành nguồn lực để đầu tư cho con người và đạt nhiều thành tựu quan trọng và thực chất trên lĩnh vực bảo đảm quyền con người. Mức sống của nhân dân ngày càng tăng và người dân Việt Nam được hưởng ngày càng nhiều quyền và tự do hơn bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử. Trên thực tế, các thành tựu về phát triển kinh tế, xã hội và việc tăng cường hội nhập quốc tế đã tạo ra các điều kiện vật chất và nguồn lực để Việt Nam bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của nhân dân.

Tăng cường Nhà nước pháp quyền, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế, chính sách nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân là một trong những ưu tiên cao nhất của Nhà nước Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã thể hiện đầy đủ các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa được thừa nhận trong Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người và các công ước quốc tế chủ chốt về quyền con người của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam là thành viên. Hiện Việt Nam đang đẩy mạnh việc sửa đổi, bổ sung các văn bản luật hiện hành về quyền con người để bảo đảm sự tương thích với Hiến pháp 2013. Việt Nam đã ban hành Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhằm bảo đảm mục tiêu xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh.

Thời gian qua, Quốc hội Việt Nam đã sửa đổi và ban hành mới nhiều đạo luật liên quan đến quyền con người, trong đó đáng chú ý là: Bộ luật Hình sự (sửa đổi); Bộ luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi); Bộ luật Dân sự (sửa đổi); Bộ luật Tố tụng Dân sự (sửa đổi); Luật Báo chí (sửa đổi); Luật Trưng cầu ý dân; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; Luật Hôn nhân và gia đình (sửa đổi); Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch; Luật Căn cước công dân; Luật An toàn thông tin mạng, Luật Tiếp cận thông tin, Luật trẻ em, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo… Dự thảo các văn bản luật đều được đăng tải công khai trên phương tiện thông tin đại chúng và cổng thông tin điện tử của các Bộ, ngành liên quan để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức chính trị, xã hội và mọi người dân.

Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân, đồng thời bảo đảm công bằng xã hội để mọi người dân được hưởng thành quả của công cuộc phát triển. Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm và dành nhiều nguồn lực để thúc đẩy quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số…, thông qua các chính sách, chương trình quốc gia về bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phòng chống mua bán người, phòng chống lao động, bóc lột và bạo hành đối với trẻ em… Năm 2014 và 2015, mặc dù Chính phủ phải thắt chặt chi tiêu công trước những khó khăn về kinh tế do ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu nhưng ngân sách Nhà nước dành cho các chương trình an sinh xã hội vẫn không bị cắt giảm, thậm chí còn tăng trong nhiều lĩnh vực, nhât là đối với các nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Cách tiếp cận và những thành tựu trong việc thực hiện những chính sách này của Việt Nam được đông đảo người dân ủng hộ và cộng đồng thế giới ghi nhận, đánh giá cao.

Hợp tác quốc tế và thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người là một trong những ưu tiên của Việt Nam, Thời gian qua, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, đặc biệt là tại Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc. Vai trò và sự đóng góp của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thể hiện qua việc các nước đã bầu Việt Nam làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu cao. Chính phủ Việt Nam một lần nữa khẳng định lại cam kết sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước và đóng góp một cách trách nhiệm vào công việc của Hội đồng Nhân quyền nhằm góp phần nâng cao hiệu quả, sự minh bạch và vai trò của Hội đồng như một cơ chế quan trọng nhất trong hệ thống của Liên Hợp Quốc về quyền con người.

CHƯƠNG II: THÀNH TỰU CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY CÁC QUYỀN CON NGƯỜI

I. CÁC QUYỀN DÂN SỰ, CHÍNH TRỊ

Thời gian qua, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật và bảo đảm thực thi pháp luật về quyền con người trên mọi khía cạnh, trong đó có các quyền dân sự và chính trị. Những thành tựu đạt được trong việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị của người dân thể hiện cam kết mạnh mẽ và nỗ lực không ngừng của Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn.

1. Quyền bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử

Quyền bình đẳng trước pháp luật được ghi nhận trong Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 16, Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,  xã hội”. Bên cạnh đó, Hiến pháp có những quy định về tố tụng công bằng như nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Khoản 5, Điều 103); nguyên tắc người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai (Khoản 2, Điều 31); người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa (Khoản 4, Điều 31).

Quyền bình đẳng trước pháp luật được cụ thể hóa trong các đạo luật. Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội (Điều 5). Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa đổi, bổ sung “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội” (Điều 9). Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng bảo đảm quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa (Điều 19); quyền được nhận bản cáo trạng, quyết định đưa ra vụ án xét xử (các Điều 49 và 182); quyền được dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, trong trường hợp này cần phải có phiên dịch (Điều 24); quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng (Điều 231); quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự do bị xét xử trái pháp luật (Điều 29). Luật Thi hành án dân sự 2008 có các quy định về thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 135,136).

Trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm làm việc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Tòa án phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản do pháp luật quy định như bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo; bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước Tòa án; không ai bị coi là có tội cho đến khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa.

Hoạt động của luật sư được bảo đảm nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng. Bộ luật Tố tụng Hình sự và chủ trương cải cách tư pháp của Nhà nước nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Các đạo luật quy định quyền của luật sư được cụ thể hóa theo hướng thực hiện đầy đủ quy định của Hiến pháp về tranh tụng, về nguyên tắc phải có người bào chữa của người bị buộc tội… để bảo đảm tốt hơn quyền được xét xử công bằng, quyền được tiếp cận và hỗ trợ tư pháp của người dân.

2. Quyền sống, quyền được tôn trọng về nhân phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể

Quyền sống là một trong những quyền cơ bản nhất của con người. Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật” (Điều 19) và “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” (Điều 20). Bộ luật Dân sự sửa đổi (được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực từ 1/7/2016) quy định cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật; danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ (Điều 33); cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ những thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin có có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại (Điều 34).

Hành vi xâm phạm quyền sống của con người được coi là một trong những hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất và bị pháp luật nghiêm trị. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng quan tâm bảo hộ an toàn tính mạng cho những người tham gia quá trình tố tụng hình sự, nhất là các bị can, bị cáo. Bộ luật Hình sự sửa đổi dành riêng Chương XIV (từ Điều 123 đến Điều 156) quy định hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Ngoài ra, Điều 157 còn quy định hình phạt đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, trong đó quy định cụ thể về hình phạt đối với một số trường hợp như làm người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật chết hoặc tự sát; tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân; gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật (từ 11- 45% và từ 46% trở lên).

Đối với Việt Nam, việc duy trì án từ hình trong thời điểm hiện nay là cần thiết nhằm bảo vệ cuộc sống bình yên cho mọi người dân, vì lợi ích chung của cộng đồng và toàn xã hội. Qua tổng kết việc thi hành Bộ luật Hình sự cho thấy có một số tội danh hiếm khi bị xử phạt đến tử hình, thậm chí có tội chưa bao giờ bị áp dụng mức hình phạt cao nhất này. Hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng với mục đích ngăn ngừa và răn đe tội phạm, không áp dụng hình phạt tử hình đối với người vị thành niên, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Các quy định này hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế, đặc biệt là điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị. Đồng thời, trong những năm qua, Việt Nam đã giảm mạnh số lượng các tội danh có áp dụng án tử hình: từ 44 (Bộ luật Hình sự năm 1985) xuống còn 29 (Bộ luật Hình sự năm 1999) và 22 (Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009). Ngày 27/11/2015, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Hình sự (sửa đổi), bỏ hình phạt tử hình đối với 7 tội danh, gồm có Tội cướp tài sản; Tội sản xuất, mua bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Tội chiếm đoạt chất ma túy; Tội phá hủy công trình, cơ sở phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Tội chống mệnh lệnh; Tội đầu hàng địch, Bên cạnh đó, Bộ luật bổ sung đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình, đó là người từ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc xét xử; mở rộng các trường hợp không thi hành án tử hình và chuyển hình phạt tử hình thành chung thân, gồm có: Người bị kết án là người từ 75 tuổi trở lên và người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

3. Quyền được bảo vệ bí mật riêng tư

Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điạn thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác” (Điều 21) và “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý” (Điều 22). Như vậy, phạm vi bảo vệ quyền về đời tư của Hiến pháp 2013 rộng hơn đáng kể so với các bản Hiến pháp trước đây.

Bộ luật Dân sự sửa đổi quy định quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32) và quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 38), theo đó việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình phải được người đó đồng ý, các thành viên gia đình đồng ý; các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà đã biết được trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện  tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Bộ luật Dân sự cũng quy định việc sử dụng hình ảnh của người dưới 15 tuổi phải được cha, mẹ hoặc người đại diện người đó đồng ý; việc sử dụng hình ảnh để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có ảnh bị nghiêm cấm.

Các bộ luật liên quan đến cụ thể hóa trách nhiệm, nguyên tắc cũng như quy định hình phạt cho các hành vi vi phạm. Điều 159 Bộ luật hình sự sửa đổi quy định về Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác. Luật Bưu chính năm 2010 quy định nguyên tắc hoạt động bưu chính phải bảo đảm bí mật thư theo quy định của pháp luật (Điều 4); nghiêm cấm việc chiếm đoạt, trộm cắp bưu gửi; tráo đổi nội dung bưu gửi; tiết lộ thông tin về sử dụng dịch vụ bưu chính, bóc mở, hủy bưu gửi trái pháp luật (Điều 7). Bưu gửi của tổ chức, cá nhân được bảo đảm an toàn từ khi được chấp nhận cho đến khi được phát. Trường hợp vỏ bọc của bưu gửi bị hư hại, rách, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính có trách nhiệm kiểm kê, lập biên bản và gói, bọc lại cho phù hợp với yêu cầu của dịch vụ bưu chính để bảo đảm an toàn cho bưu gửi (Điều 13). Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 cũng quy định việc quản lý lý lịch tư pháp phải “bảo đảm tôn trọng bí mật đời tư của cá nhân” (Điều 4); nghiêm cấm việc “sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp của người khác trái pháp luật, xâm phạm bí mật đời tư cá nhân (khoản 6, Điều 8).

4. Quyền tự do đi lại, cư trú

Tự do đi lại và cư trú là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong các bản Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ. Điều 23 Hiến pháp 2013 quy định: Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Luật Cư trú ban hành ngày 29/11/2006, sửa đổi năm 2013 đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tự do lựa chọn nơi cư trú với những thủ tục đăng ký cư trú đơn giản, thuận tiện, kịp thời, không gây phiền hà cho nhân dân… Những quy định về việc đi lại, cư trú của công dân Việt Nam và người nước ngoài ở Việt Nam cũng được nêu rõ tại Bộ luật Dân sự, luật Quốc tịch, luật Đầu tư nước ngoài và các văn bản pháp luật khác có liên quan, đồng thời đang được bổ sung, sửa đổi theo hướng ngày càng cởi mở hơn.

Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia nhiều Điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực xuất nhập cảnh như: Công ước Viên về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên về quan hệ lãnh sự, Công ước Chicago, Công ước về quyền ưu đãi miễn trừ Liên Hợp Quốc… Chính phủ Việt Nam đã ký kết 78 Hiệp định và thỏa thuận song phương về việc miễn thị thực nhập cảnh cho công dân với các nước và vùng lãnh thổ; ký hiệp định biên giới với các nước láng giềng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân của nhau qua lại. Việt Nam tích cực tham gia diễn đàn Á – Âu (ASEM) về quản lý dòng di cư; Chương trình Thẻ đi lại của doanh nhân APEC (ABTC), tạo điều kiện cho doanh nhân APEC nhập, xuất cảnh vì mục đích đầu tư, thương mại, dịch vụ trong khối; xem xét cho nhập quốc tịch Việt Nam đối với các trường hợp không quốc tịch cư trú ổn định tại Việt Nam từ 20 năm trở lên (mặc dù Việt Nam chưa tham gia Công ước quốc tế về người không quốc tịch).

Trong những năm qua, Việt Nam đã giảm hơn 40% thủ tục về xuất nhập cảnh. Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII. Thực tế cho thấy, lượng người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam có xu hướng tăng nhanh, mang nhiều quốc tịch khác nhau và mục đích nhập cảnh đa dạng. Năm 2015, có 7.943.651 lượt người nước ngoài đến Việt Nam. Trung bình giai đoạn 2010-2014, mỗi năm có gần 90.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Hiện nay, có khoảng 500.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Du học sinh Việt Nam có mặt tại 50 quốc gia. Việt Nam đã ký 16 Hiệp định/thỏa thuận về nhận trở lại công dân Việt Nam không được nước sở tại cho cư trú và đang tiếp tục đàm phán với một số quốc gia khác như Nhật, Bungari, Rumani… Từ năm 1999 đến nay, Việt Nam đã tiếp nhận hàng chục nghìn người về nước từ các Hiệp định/thỏa thuận song phương nói trên, đồng thời tạo thuận lợi cho những người này tái hòa nhập cộng đồng và tham gia vào đời sống kinh tế, xã hội.

Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, quyền tự do đi lại và cư trú tại Việt Nam có thể bị hạn chế theo luật định, phù hợp với các quy định quốc tế về quyền con người, nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức xã hội hoặc việc thụ hưởng các quyền tự do của người khác. Hành vi lợi dụng quyền tự do đi lại, cư trú để vi phạm pháp luật hoặc tiến hành các hoạt động thù địch xâm phạm an ninh quốc gia sẽ bị xử lý theo pháp luật, trong đó có hình phạt hạn chế đi lại, cấm cư trú hoặc cư trú bắt buộc.

5. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, với sự hiện diện của nhiều tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo… và các tôn giáo được hình thành trong nước như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa… Nhiều tôn giáo đã tồn tại từ hàng nghìn năm, hàng trăm năm, nhưng cũng có những tôn giáo mới hình thành. Các tôn giáo chung sống hòa hợp và đan xen với các tín ngưỡng truyền thống trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Theo ước tính có khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó có trên 24 triệu tín đồ của các tôn giáo khác nhau (chiếm khoảng 27% dân số), thuộc 38 tổ chức tôn giáo, tăng gần 7 triệu tín đồ so với năm 2003. Cả nước có gần 53.000 chức sắc, 133.700 chức việc tôn giáo và khoảng 27.900 cơ sở thờ tự. Các ngày lễ tôn giáo lớn như Lễ Giáng sinh của đạo Công giáo, Lễ Phật đản của Phật giáo… đều được tổ chức trọng thể theo các nghi lễ tôn giáo. Hàng năm có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo hoặc tín ngưỡng cấp quốc gia và địa phương được tổ chức.

Nhà nước Việt Nam nhìn nhận tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng và là một trong những quyền cơ bản của con người; thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; nghiêm cấm mọi hình thức kỳ thị, phân biệt, đối xử vì lý do tôn giáo; đồng thời coi trọng thúc đẩy sự hòa hợp giữa các tôn giáo. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh chính sách “tín ngưỡng tự do và Lương, Giáo đoàn kết”. Chính sách tôn trọng và bảo vệ quyền tự do thờ cúng và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo đã được thể hiện xuyên suốt trong tất cả các bản Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ. Điều 24 Hiến pháp 2013 nêu rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Nguyên tắc không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện rõ tại các điều khoản của Hiến pháp liên quan đến quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bầu cử, ứng cử; các quy định của Bộ luật Dân sự liên quan đến các quan hệ dân sự, lao động, kết hôn và nhiều văn bản pháp quy khác như Bộ Luật Tố tụng Hình sự, luật Đất đai, luật Giáo dục…

Luật pháp Việt Nam cũng nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, ép buộc người dân theo đạo, bỏ đạo hoặc phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 164 Bộ luật Hình sự (sửa đổi) quy định về tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân và người vi phạm có thể bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm. Các quy định trên hoàn toàn phù hợp với tinh thần và nội dung về tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được nêu trong Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người và Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị.

Trên thực tế, người có tín ngưỡng, tín đồ các tôn giáo được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, lễ hội, nghi lễ tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà họ tin theo tại gia đình, cơ sở của các tôn giáo hoặc điểm nhóm đăng ký với chính quyền; được tự do chuyển đổi tôn giáo theo quy định của giáo lý, giáo luật của các tôn giáo.

Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng xây dựng hoàn thiện hệ thống các văn bản luật về tôn giáo. Ngày 18/6/2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và thể chế hóa chủ trương, chính sách của Nhà nước về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phù hợp với các văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Tiếp đó, ngày 1/3/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; ngày 4/2/2005, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 01/2005/CT-TTg về đạo Tin lành, trong đó nghiêm cấm việc ép buộc người dân theo đạo hoặc bỏ đạo, tạo điều kiện thuận lợi để các chi hội Tin lành xây dựng nơi thờ tự và đăng ký sinh hoạt tôn giáo.

Ngày 8/11/2012, Chính phủ đã ban hành nghị định 92/2012/NĐ-CP quy định chi tiết về biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo với nhiều điểm mới, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành và tín đồ trong hoạt động tôn giáo. Ngày 18/11/2016, Quốc hội đã thông qua luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

Các tổ chức tôn giáo đã đăng ký được pháp luật bảo hộ, được tự do hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, sửa chữa và xây dựng cơ sở thờ tự theo quy định của pháp luật. Đến nay, trên cả nước, Phật giáo có khoảng 17.000 ngôi chùa, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường; Công giáo có 7.445 cơ sở thờ tự; Tin lành có gần 500 nhà thờ, nhà nguyện; Cao Đài có 1.281 thánh thất; Phật giáo Hòa Hảo có 43 ngôi chùa được công nhận; Hồi giáo có 89 thánh đường…

Riêng năm 2014 có hơn 900 cơ sở thờ tự được cải tạo, nâng cấp và xây mới. Hiện Phật giáo có 4 học viện Phật giáo, 1 trường Cao đẳng Phật học và 32 trường Trung cấp Phật học; Giáo hội Công giáo có 1 Học viện Công giáo; 7 Đại chủng viện và 1 cơ sở II Đại chủng viện Thánh Giuse tại Hà Nội; Tin lành có 1 Viện Thánh kinh thần học và 1 trường Thánh kinh thần học. Năm 2014, trên 13.000 người đã tốt nghiệp các khóa đào tạo hoặc bồi dưỡng về tôn giáo; trên 7.000 người đang tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng chức sắc của các tổ chức tôn giáo.

Nhiều tổ chức tôn giáo cũng cử chức sắc, nhà tu hành, tín đồ tham gia các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài. Hiện Việt Nam có khoảng 250 tăng ni du học tại Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, Hoa Kỳ, Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Myanma; 250 linh mục được đào tạo tại Pháp, Hoa Kỳ, Ý, Philippines. Năm 2014 có hơn 2.000 chức sắc, nhà tu hành được các tổ chức tôn giáo phong chức, phong phẩm; trên 1.000 người được bổ nhiệm.

Nhà nước chủ trương giao đất cho các cộng đồng tôn giáo sử dụng lâu dài và đất đai tín ngưỡng, tôn giáo không phải chịu thuế như các loại đất khác. Những năm qua, hàng trăm hécta đất đã được cấp cho các tổ chức tôn giáo để xây dựng cơ sở thờ tự, đặc biệt là: Thành phố Hồ Chí Minh đã cấp cho Tòa Tổng Giám mục xây dựng Trung tâm mục vụ và Tổng Liên hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) 7.500m2 đất để xây dựng Viện Thánh kinh thần học; Giáo hội Phật giáo Việt Nam được cấp 20.000m2 để xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội; Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột được cấp 11.000m2; Tòa Giám mục Đà Nẵng được cấp hơn 9.000m2; Giáo xứ La Vang ở Quảng Trị được cấp thêm 15.000m2 để xây dựng Trung tâm hành hương; Hội truyền giáo Cơ đốc Việt Nam được cấp 6.000m2 để xây dựng trụ sở mới. Nhiều tỉnh đã cơ bản hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cơ sở tôn giáo như Ninh Bình 94%, Bắc Ninh 90%...

Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền tự do và bình đặng về tín ngưỡng, tôn giáo của các dân tộc thiểu số. Người dân tộc Chăm theo Hồi giáo và đạo Bàlamôn được tạo điều kiện thành lập các Ban đại diện cộng đồng để hỗ trợ các sinh hoạt tôn giáo, gìn giữ và phát triển tôn giáo truyền thống. Nhà nước hỗ trợ in ấn Kinh thánh song ngữ tiếng Việt và các tiếng của dân tộc thiểu số; đã xuất bản trên 30.000 cuốn Kinh thánh bằng tiếng Ba na, Ê đê, Gia rai; cho phép in và nhập kinh sách Phật giáo Nam Tông Khơ me; chuẩn bị xuất bản Kinh Coran song ngữ Việt Nam - Ả Rập. Tại Tây Nguyên, khoảng 440.000 tín đồ Tin Lành, trong đó đại bộ phận là dân tộc thiểu số, đang sinh hoạt tôn giáo bình thường tại 230 chi hội và hơn 1.300 điểm nhóm; số tín đồ tại các chi hội và điểm nhóm nói trên chiếm khoảng 95% tổng số tín đồ. Tại Tây Bắc, hiện có khoảng 180.000 tín đồ Tin Lành, trong đó hầu hết là người dân tộc thiểu số với 90% là người Mông. Chính quyền địa phương đã tạo điều kiện cho đồng bào theo đạo Tin Lành sinh hoạt tôn giáo tại gia đình hoặc sinh hoạt tập thể theo điểm nhóm. Đến nay, đa số các điểm nhóm Tin lành tại các tỉnh Tây Bắc sinh hoạt bình thường, trong đó trên 400 điểm nhóm đã đăng ký với chính quyền. Tại miền Tây Nam bộ, có khoảng 1,1 triệu tín đồ Phật giáo Nam Tông Khơ me, sinh hoạt trong 456 ngôi chùa và có một Học viện Phật giáo Nam Tông Khơ me tại Cần Thơ.

Hoạt động quốc tế của các tôn giáo tại Việt Nam ngày càng được mở rộng. Tòa thánh Vaticăng đã bổ nhiệm Đặc phái viên không thường trú tại Việt Nam. Đặc phái viên không thường trú của Vaticăng đã thực hiện 31 chuyến thăm Việt Nam, làm việc với tất cả 26 Giáo phận Công giáo và trên 60 tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Nhà nước còn tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tôn giáo Việt Nam tăng cường giao lưu, kết nối với quốc tế. Hàng năm có hàng trăm lượt chức sắc tôn giáo Việt Nam tham dự các hoạt động tôn giáo ở nước ngoài và hàng ngàn lượt cá nhân tôn giáo nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam giảng đạo và tham gia các hoạt động, sự kiện tôn giáo.

Đại lễ Phật đản (VESAK) Liên Hợp Quốc được tổ chức tại Hà Nội năm 2008 với trên 1.500 đại biểu đến từ 74 quốc gia và vùng lãnh thổ và tại Bái Đính, Ninh Bình năm 2014 với sự tham dự của hơn 1.000 chức sắc, tín đồ đến từ 95 quốc gia và vùng lãnh thổ; Hội nghị Ni giới thế giới năm 2009 tại thành phố Hồ Chí Minh có gần 400 đại biểu Phật giáo quốc tế. Năm Thánh 2011 của Giáo hội Công giáo đã được tổ chức trang trọng và Lễ bế mạc có sự tham dự của 50 Giám mục, trong đó có 6 Giám mục nước ngoài. Nhân kỷ niệm 100 năm đạo Tin Lành vào Việt Nam năm 2011, nhiều hoạt động kỉ niệm lớn được tổ chức tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh với nhiều đại biểu Tin Lành nước ngoài (Hoa Kỳ, Hàn Quốc)… Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đăng cai tổ chức Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu tháng 12/2012 tại tỉnh Đồng Nai với sự tham dự của trên 120 Giám mục, đại biểu Công giáo từ các Giáo phận Công giáo trong khu vực châu Á và đại diện Tòa thánh Vaticăng.

Hầu hết các tổ chức tôn giáo đã xuất bản báo, tạp chí, bản tin. Theo thống kê từ năm 2006 đến nay, Nhà Xuất bản Tôn giáo đã cấp phép xuất bản 8.683 xuất bản phẩm, trong đó có 4.725 đầu sách với 14.535.464 bản in. Trung bình mỗi năm có hơn 1.000 ấn phẩm liên quan đến tôn giáo được cấp phép xuất bản, với hơn 2 triệu bản in; 1.118 đĩa VCD, CD, DVD; ảnh, lịch, cờ với số lượng 2.456.201 bản, với nhiều ngôn ngữ khác nhau như Anh, Pháp và tiếng dân tộc Khơ me, Ê đê, Gia rai, Ba na… Hiện Việt Nam đang nghiên cứu in thí điểm Kinh thánh song ngữ Việt – Mông – nước ngoài…

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin

Hiến pháp 2013 (Điều 25) quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin”. Hệ thống pháp luật Việt Nam về báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình đã được xây dựng và đang được hoàn thiện theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền tự do ngôn luận của nhân dân.

Luật Báo chí (sửa đổi), được Quốc hội thông qua ngày 5/4/2016, quy định rõ quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân và trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, theo đó công dân có quyền “sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, tiếp cận thông tin báo chí (Điều 10); phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới, tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên của các tổ chức đó (Điều 11); Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng (Điều 13)”.

Quyền tự do ngôn luận, báo chí, thông tin còn được thể hiện trong luật Xuất bản năm 2012, Nghị định số 88/2012/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin, báo chí của báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam và nhiều văn bản khác. Ngày 15/7/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về “quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”, qua đó tạo điều kiện thúc đẩy việc đưa các thông tin hữu ích lên mạng internet; phổ cập dịch vụ internet ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thúc đẩy môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch cho các doanh nghiệp, tăng cường bảo đảm an toàn và an ninh thông tin trên mạng, phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc cũng như các tiêu chuẩn về quyền con người được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên.

Ngày 19/11/2015, Quốc hội thông qua luật An toàn thông tin mạng, quy định về quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm an toàn thông tin mạng; kinh doanh trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng; phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin mạng, quản lý Nhà nước về an toàn thông tin mạng. Luật có quy định về việc thiết lập kênh thông tin trực tuyến để tiếp nhận phản ánh của tổ chức, cá nhân về vấn đề liên quan đến thông tin cá nhân; đồng thời đơn giản các quy định liên quan đến cấp phép kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân.

Luật Tiếp cận thông tin cũng được Quốc hội thông qua ngày 6/4/2016, có hiệu lực từ ngày 1/7/2018, quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện việc tiếp cận thông tin; trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, theo đó thông tin được cung cấp phải chính xác, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân. Việc hạn chế tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.

Nhà nước tạo điều kiện cho người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Luật cũng có quy định rõ về thông tin công dân không được tiếp cận như: Thông tin thuộc bí mật Nhà nước, quốc phòng, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ…

Báo chí đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức chính trị, xã hội và nhân dân; là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích chung của xã hội và các quyền tự do dân chủ của nhân dân; kiểm tra, giám sát việc thực thi luật pháp, chính sách của Nhà nước, đặc biệt về quyền con người. Mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, bày tỏ chính kiến, đóng góp ý kiến về mọi vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Nhiều cơ quan, báo chí đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, vi phạm quyền con người, quyền công dân và các biểu hiện tiêu cực khác. Thông tin trên báo chí, đài phát thanh và truyền hình ngày càng phong phú và cập nhật hơn. Các phiên họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các buổi chất vấn Chính phủ được truyền hình trực tiếp. Nhiều chương trình đối thoại, chương trình “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời”, tranh luận, thăm dò ý kiến… với nội dung phong phú, đa chiều về mọi vấn đề đã được đăng tải, truyền thanh, truyền hình rộng rãi. Dự thảo Hiến pháp năm 2013 đã được đăng công khai và nhận được hơn 26 triệu ý kiến đóng góp trước khi được Quốc hội thông qua.

Sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian qua là minh chứng sinh động về tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam. Tính đến 31/12/2014, Việt Nam có 838 cơ quan báo chí (trong đó có 199 cơ quan báo in) với 1.111 ấn phẩm; gần 18.000 nhà báo được cấp thẻ và khoảng 5.000 người hoạt động báo chí nhưng chưa đủ điều kiện được cấp thẻ nhà báo; một hãng thông tấn quốc gia; 67 đài phát thanh, truyền hình với 179 kênh truyền hình và 78 kênh phát thanh; 92 báo và tạp chí điện tử, 1.607 trang thông tin điện tử, 420 mạng xã hội đã đăng ký hoạt động.

Thông tấn xã Việt Nam đã xuất bản các ấn phẩm song ngữ tiếng Kinh với các tiếng dân tộc như Khơ-me, Chăm, Ba-na, Gia-rai, Mông, Ê-đê, M’nông, Cờ-ho, góp thêm kênh thông tin sinh động dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số, giúp họ nâng cao mức thụ hưởng văn hóa thông qua các sản phẩm báo chí. Đài Tiếng nói Việt Nam phủ sóng 99,5% diện tích lãnh thổ và phủ sóng qua vệ tinh tới nhiều nước trên thế giới.

Phóng viên Báo Đắk Nông tác nghiệp ghi lại hình ảnh Nhà giàn DK1. Ảnh: Lam Giang

Hệ phát thanh dân tộc VOV4 bắt đầu phát sóng năm 2004 và hiện phát thanh 11 thứ tiếng dân tộc gồm tiếng Mông, Dao, Thái, Ê-đê, Gia-rai, Ba-na, Xơ-đăng, Cờ-ho, Chăm, Khơ-me, M’nông và Cơ-tu. Chương trình phát thanh đối ngoại VOV5 bắt đầu phát sóng lần đầu tiên ngày 7/9/1945 bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Quảng Đông.

Ngoài chương trình phát tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, hiện VOV5 còn được phát thanh bằng 11 ngôn ngữ khác là tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Nhật, Trung Quốc, Đức, Lào, Thái Lam, Khơ-me, Indonesia. Đến nay, Đài Truyền hình Việt Nam đã phủ sóng vệ tinh 100% lãnh thổ Việt Nam và một số quốc gia láng giềng; phạm vi phủ sóng mặt đất của kênh VTV1 chiếm 90%, kênh VTV3 chiếm 80% dân cư.

Người dân Việt Nam được tiếp cận với 40 kênh truyền hình nước ngoài được cấp phép biên tập phát sóng, trong đó các kênh như CNN, BBC, Bloomberg, TV5, DW, NHK, KBS, Australia Network… Ngoài 40 kênh trên, các tổ chức, cá nhân nước ngoài có thể đăng ký thu trực tiếp kênh truyền hình nước ngoài từ vệ tinh. Có 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam. Nhiều báo và tạp chí nước ngoài in bằng nhiều thứ tiếng được phát hành rộng rãi tại Việt Nam.

Tính đến tháng 6/2015, Việt Nam có 63 nhà xuất bản (so với 55 nhà xuất bản năm 2009). Tốc độ tăng bình quân số lượng xuất bản phẩm hàng năm từ 5-10%. Số lượng đăng ký xuất bản năm 2014 là 37.000 xuất bản phẩm với 370 triệu bản in; nộp lưu chiểu 30.000 xuất bản phẩm với nội dung phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu đọc của người dân. Luật Xuất bản sửa đổi đã được Quốc hội thông qua tháng 11/2012 thể hiện việc tôn trọng, bảo đảm quyền phổ biến tác phẩm của cá nhân.

Việc sử dụng internet được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện, nhằm phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống và quyền tự do của nhân dân. Tính đến hết tháng 12/2014, số người dùng Internet ở Việt Nam là 44,7 triệu, chiếm 49% dân số. Tính đến tháng 6/2015, số thuê bao sử dụng băng thông rộng là 123.544.415, trong đó số thuê bao 3G là 36.875.151, số thuê bao truy cập internet băng thông rộng cố định là 6.698.948. Theo Tổ chức Liên minh viễn thông quốc tế (ITU), Việt Nam đứng thứ ba ở Đông Nam Á và thứ 7 tại châu Á về số lượng người sử dụng Internet.

 Quyền tự do hội họp, lập hội

Quyền lập hội đã được thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946, Sắc lệnh số 52 của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946 về Lập hội (15 Điều), Sắc lệnh số 102-SL/004-L năm 1957 ban hành Luật quy định về quyền lập hội (12 Điều), Chỉ thị 202-CT/HĐBT về các quy định của Nhà nước về lập hội năm 1990.

Hiến pháp 2013 quy định công dân có quyền tự do hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 25). Quyền lập hội còn được thể hiện trong các đạo luật quan trọng và nhiều văn bản dưới luật. Bộ luật Dân sự quy định các hội được thành lập hợp pháp sẽ được pháp luật ghi nhận và bảo đảm quyền sở hữu đối với tài sản của hội; Bộ luật Hình sự sửa đổi (Điều 163) quy định về tội xâm phạm quyền tự do hội họp, lập hội của công dân và người vi phạm có thể bị phạt tù từ 3 tháng đến một năm; Nghị định số 33/2012/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Hiện nay, các cơ quan liên quan đang xây dựng dự thảo Luật về Hội nhằm cụ thể hóa Điều 25 của Hiến pháp 2013.

Hội nghị Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh Đắk Nông về công tác xây dựng tổ chức hội. Ảnh tư liệu

Hiện ở Việt Nam có hàng ngàn hội, đại diện cho ý chí, lợi ích, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các tổ chức và hiệp hội của thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, người khuyết tật…; các hội từ thiện, các tổ chức khoa học, nghề nghiệp, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức phi Chính phủ đã đăng ký hoạt động. Tính đến hết tháng 12/2014, cả nước có 52.501 hội (482 hội hoạt động trên phạm vi cả nước và 52.019 hội có hoạt động ở phạm vi địa phương), trong đó có 8.792 hội được xác định là hội có tính chất đặc thù (28 hội hoạt động trong phạm vi cả nước và 8.764 hội hoạt động ở phạm vi địa phương).

Năm tổ chức chính trị - xã hội lớn có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội là: Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Các tổ chức chính trị - xã hội này là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tuy nằm trong hệ thống chính trị nhưng không phải là cơ quan công quyền, mà là đại diện cho quyền lợi, tiếng nói của các giai tầng xã hội.

Các hội tại Việt Nam ngày càng phát triển và khẳng định vai trò là những tổ chức vận động và phản biện chính sách trong đời sống chính trị, xã hội và các ngành, lĩnh vực liên quan. Xây dựng và phát triển hội, đặc biệt là các tổ chức cộng đồng ở các vùng nghèo đã trở thành một trong những phương pháp tiếp cận đang được khuyến khích, nhằm tăng cường năng lực và thúc đẩy việc thực hiện các quyền của người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương. Nhà nước chủ trương đẩy mạnh sự tham gia của các tổ chức đoàn thể vào công việc của địa phương và xây dựng mối quan hệ đối thoại/đối tác giữa chính quyền với các tổ chức, đoàn thể nhân dân.

8. Quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý Nhà nước và xã hội

Quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của người dân được quy định rõ tại các Điều 27, 28, 29 Hiến pháp 2013. Điều 27 nêu rõ: “Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

Việc thực hiện quyền này do luật định”. Điều 28 quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước” (Khoản 1); đồng thời nêu rõ “Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (Khoản 2)…

Đồng thời, Hiến pháp cũng quy định công dân đủ mười tám  tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29), thể hiện tầm quan trọng của quyền biểu quyết nói riêng và quyền của người dân được bày tỏ chính kiến, tham gia đóng góp ý kiến đối với Nhà nước. Các quy định trên của Hiến pháp đã tạo ra khuôn khổ pháp lý vững chắc bảo đảm cho công dân được thực sự tham gia quản lý Nhà nước và xã hội.

Công dân đủ 18 tuổi trở lên không phân biệt gái, trai, đều có quyền đi bầu cử. Ảnh tư liệu

Ngoài Hiến pháp 2013, quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý Nhà nước và xã hội còn được quy định tại nhiều văn bản luật như luật Tiếp công dân, luật Khiếu nại, luật Tố cáo, luật Thanh tra… và các văn bản khác có liên quan. Đặc biệt, việc Quốc hội thông qua luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân ngày 25/6/2015 đã tạo khung pháp lý quan trọng trong việc bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của công dân.

Nhà nước Việt Nam chủ trương tăng cường các hình thức dân chủ trực tiếp, nhất là cấp cơ sở. Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý, điều hành ở địa phương, nơi mà cộng đồng dân cư Việt Nam vốn có truyền thống làng xã, các mối quan hệ xã hội vốn luôn được điều chỉnh trên cơ sở tự nguyện, tự quản. Quy chế Dân chủ ở cơ sở do Nhà nước ban hành năm 1998 đã tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực vào tiến trình xây dựng, hoạch định và giám sát việc thực hiện chính sách của Nhà nước, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng. Nhờ đó, người dân tham gia rộng rãi và mạnh mẽ vào quản lý Nhà nước và xã hội, tích cực hơn trong việc nắm bắt thông tin (dân biết), tham gia thảo luận (dân bàn), triển khai (dân làm), kiểm tra, giám sát (dân kiểm tra) các chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Hỗ trợ sinh kế cho các gia đình nạn nhân bom mìn là một nhiệm vụ trọng tâm của Hội Hỗ trợ khắc phục hậu quả bom mìn Việt Nam. Ảnh tư liệu

Nhà nước Việt Nam cũng chủ trương mở rộng hình thức dân chủ trực tiếp, tạo thêm không gian mới cho sự tham gia của người dân, đặc biệt thông qua các phương tiện truyền thông như: Đối thoại giữa chính quyền địa phương với người dân thông qua gặp gỡ trực tiếp hoặc trực tuyến (online); tổ chức các buổi họp báo, chương trình “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời” trên truyền hình, chương trình “Dân hỏi Chủ tịch UBND trả lời” ở các cấp chính quyền địa phương…; tổ chức các cuộc khảo sát sự hài lòng của công dân đối với các dịch vụ hành chính công thông qua phiếu khảo sát ý kiến người dân, phần mềm lấy ý kiến người dân; tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật… Việc thực hiện dân chủ trực tiếp tại cơ sở còn được thể hiện qua việc người dân tham gia giám sát công tác giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân; đánh giá hoạt động của các cơ quan Nhà nước thông qua việc xác định tính phù hợp của các mục tiêu, chủ trương, chính sách, tính khả thi và mức độ đáp ứng yêu cầu thực tiễn của các giải pháp…, qua đó tạo ra sự đồng thuận trong xã hội, cũng như cơ sở vững chắc cho việc tổ chực thực hiện đường lối chính sách và pháp luật của Nhà nước tại địa phương.

Đặc biệt, ngày 25/11/2015, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật Trưng cầu ý dân, gồm 8 Chương, 52 Điều, quy định cụ thể phạm vi, nguyên tắc trưng cầu ý dân; quyền hạn và nhiệm vụ cơ quan, tổ chức trong trưng cầu ý dân, trình tự, thủ tục quyết định việc trưng cầu ý dân; kết quả và hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân. Việc thông qua luật Trưng cầu ý dân chính là nhằm bảo đảm nhân dân được trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội.

9. Quyền của người bị giam giữ được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm

Hiến pháp và pháp luật Việt Nam quy định cần tôn trọng, bảo vệ các quyền cơ bản của phạm nhân tại các trại giam, trại tạm giam; nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị giam giữ. Luật Thi hành án Hình sự cũng nêu nguyên tắc tôn trọng nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án (Điều 4).

Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành: Nghị định 90/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 117/2011/NĐ-CP ngày 15/12/2011 của Chính phủ quy định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân; Thông tư liên Bộ 4/2010/TTLT-BTC-BCA-BQP ngày 12/1/2010 quy định chi tiết về chế độ lao động và quyền lợi của phạm nhân đối với kết quả lao động của họ; Nghị định số 09/2011/NĐ-CP ngày 25/1/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 về chế độ ăn và khám chữa bệnh đối với người bị tạm giữ, tạm giam; Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 quy định các biện pháp hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù, giúp đỡ tạo điều kiện để họ nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Người bị tước quyền tự do có quyền được đối xử nhân đạo. Ảnh tư liệu

Các quy định trên được triển khai nghiêm túc tại các trạm giam, trại tạm giam, góp phần cải thiện đáng kể việc bảo đảm các chế độ về ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe và y tế cho các phạm nhân; đồng thời các điều kiện vật chất cũng từng bước được nâng cao để đáp ứng các nhu cầu hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa của phạm nhân trong thời gian chấp hành án. Trong 6 tháng đầu năm 2015, các trại giam đã điều trị tại bệnh xá cho 17.391 phạm nhân, điều trị tại bệnh viện cho 1.168 bệnh nhân.

Các trại giam tổ chức cho người bị giam giữ học tập nội quy, quy định của pháp luật, học văn hóa, giáo dục công dân, hướng nghiệp, đào tạo nghề, hướng dẫn chấp hành pháp luật và giáo dục hướng thiện. Các đợt giáo dục được tổ chức tập trung, kết hợp với giáo dục riêng và thông báo đến gia đình phạm nhân về kết quả chấp hành án phạt tù của thân nhân họ nhằm phối hợp động viên, giáo dục cảm hóa để họ nhận rõ tội lỗi, sớm hoàn lương trỏ về với cộng đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2015, các trại giam đã tổ chức 407 lớp học về thời sự, chính trị cho 202.204 lượt phạm nhân, 1.340 lớp về giáo dục pháp luật, nội quy trại giam cho 202.204 lượt phạm nhân; 103 lớp về phòng chống ma túy, HIV/AIDS cho 35.090 lượt phạm nhân, 123 lớp xóa mù chữ cho 2.666 lượt phạm nhân và các lớp học về giáo dục công dân (468 lớp cho 13.029 lượt phạm nhân mới đến nhập trại, 293 lớp cho 33.029 lượt phạm nhân đang chấp hành án phạt tù, 221 lớp cho 12.604 lượt phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù). Bên cạnh đó, 44/49 trại giam đã thành lập Trung tâm dạy nghề và các trại giam đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan, tổ chức đào tạo dạy nghề cho 18.424 lượt phạm nhân.

Thời gian lao động của phạm nhân được thực hiện theo đúng quy định của luật Lao động; thời gian học tập được trừ vào thời gian lao động. Buồng giam được bảo đảm có đủ ánh sáng và vệ sinh môi trường. Người bị giam giữ có quyền gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa theo quy định; được tiếp cận thông tin qua hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình trong nhà giam giữ; có quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật và quyền của người bị giam, tạm giữ, tạm giam.

Về việc phòng chống, ngăn chặn các hành vi tra tấn, bức cung, nhục hình và các hành vi lạm quyền khác của cán bộ có thẩm quyền trong quá trình thực thi nhiệm vụ, Hiến pháp 2013 (Điều 20, khoản 1) nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực, xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của tất cả mọi người. Các hành vi vi phạm sẽ bị điều tra và xử lý thích đáng theo quy định tại các Điều 157, 373 và 374 Bộ luật Hình sự sửa đổi.

Đặc xá là chủ trương lớn, thể hiện truyền thống và chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước Việt Nam đối với những người phạm tội biết ăn năn, hối cải. Công tác đặc xá được thực hiện công khai, công bằng, minh bạch đối với phạm nhân, với các tiêu chuẩn và điều kiện rõ ràng, được nhân dân cả nước và dư luận quốc tế hoan nghênh ủng hộ.

Nhân dịp Quốc khánh 2/9/2015, Việt Nam đã tiến hành một đợt đặc xá lớn, tha tù trước thời hạn cho 18.296 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù và 241 người đang được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án. Trong 6 tháng đầu năm 2015, các trại giam đã giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho 57.323 phạm nhân cải tạo tiến bộ.

Về công tác tái hòa nhập cộng đồng, qua tổng kiểm tra khảo sát, từ 2002 – 2012, 82,26% số người chấp hành xong án phạt tù có việc làm.

Ngày 25/11/2015, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật Thi hành tạm giam, tạm giữ. Luật gồm 11 chương, 73 Điều quy định người bị tạm giữ, tạm giam có quyền được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở tạm giữ; thực hiện quyền bầu cử theo quy định của luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu dân ý theo luật Trưng cầu ý dân; được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo và tài liệu; gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự; được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự do bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý; được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự; yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tam giam; khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật; được bồi thường thiệt hại theo quy định của luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam giữ trái pháp luật. Luật cấm các hành vi tra tấn, truy bức, dùng nhục hình, các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người hoặc bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa đổi (thông qua 27/11/2015) có những nội dung mới quan trọng, theo đó người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội (Điều 58, 59, 60, 61); được bảo đảm thực hiện tốt quyền bào chữa; đồng thời quy định chặt chẽ căn cứ tạm giam, rút ngắn thời gian tạm giam…

II. CÁC QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA

1. Quyền hưởng thụ các thành tựu phát triển kinh tế

Trong hơn 20 năm qua, Việt Nam đã nỗ lực mạnh mẽ trong việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước, bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân và bảo vệ môi trường. Nhiều chính sách mới quan trọng, có tầm ảnh hưởng rộng đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước và người dân đã được ban hành.

Hiến pháp và các văn bản pháp luật đã thiết lập những chế định quan trọng nhất, định hướng cho sự phát triển của Nhà nước và điều chỉnh mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội, bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế, ổn định và công bằng xã hội. Hệ thống pháp luật của Việt Nam trên lĩnh vực này được đánh giá là đã tiếp cận phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và tạo tiền đề vững chắc cho công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước, trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển.

Một khối lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành liên quan đến quyền con người, quyền công dân như luật Thuế thu nhập cá nhân, luật Các tổ chức tín dụng, luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, luật Thuế bảo vệ môi trường, luật Hợp tác xã (sửa đổi), luật Đầu tư, luật Doanh nghiệp, luật Doanh nghiệp Nhà nước, luật Dân sự, luật Đất đai, luật Đấu đầu… Các văn bản pháp luật này tạo khung pháp lý quan trọng bảo đảm sự bình đẳng về quyền và cơ hội trong sản xuất, kinh doanh giữa các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất, kinh doanh, quyền sở hữu, đặc biệt là sở hữu tư nhân cũng như địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, doanh nhân.

Sau hơn 30 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được các thành tựu quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, bình quân 7,5%/năm; cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp, giảm tỉ trọng nông nghiệp. Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống của người dân. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng nhanh đã tạo động lực cho phát triển kinh tế. Trong giai đoạn 2011-2015, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 1,8 lần so với 5 năm trước, chiếm 31,2% GDP; vốn FDI thực hiện đạt 58,2 tỷ USD, tăng 31%; vốn ODA giải ngân đạt khoảng 24 tỷ USD, tăng 70,5%. Nhờ đó, Nhà nước có điều kiện dành nhiều nguồn lực hơn để đầu tư cho các mục tiêu ưu tiên về xã hội như giáo dục, y tế, xây dựng hạ tầng công cộng, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ các vùng khó khăn, các nhóm xã hội dễ bị tổn thương…

Mức sống của người dân Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt. Tổng thu nhập quốc nội (GDP) bình quân đầu người/năm tăng từ 1.024 đô la Mỹ năm 2008 lên 1.543 đô là Mỹ năm 2011 và 2.228 đô la Mỹ năm 2015 (tính theo sức mua ngang giá là trên 5.600 đô la). Sự cách biệt về thu nhập giữa thành thị và nông thôn được thu hẹp dần. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 13,7% năm 2008 xuống còn 4,5% năm 2015, bình quân mỗi năm giảm 2%. Thu nhập bình quân của hộ nghèo tăng gần 2 lần trong 5 năm qua. Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam từng bước được nâng lên và đang dần tiếp cận với chuẩn nghèo quốc tế.

Trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã đặt mục tiêu “ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm quốc phòng an ninh, ổn định chính trị xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế”. Bên cạnh đó, một loạt chính sách được ban hành nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả nền kinh tế, cụ thể như: Quyết định số 26/2012/QĐ-TTg ngày 8/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia; Chỉ thị số 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ; Quyết định 712/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình quốc gia Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020; Thông tư số 31/2013/TT-BTC ngày 18/3/2013 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn cơ chế tài chính chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia. Nhờ những nỗ lực này, lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm mạnh, từ 18,13% năm 2011 xuống còn khoảng 2% vào năm 2015, thấp nhất trong 15 năm qua; kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 18%/năm trong giai đoạn 2011-2015.

Với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế vì quyền và lợi ích của người dân, trong những năm qua, Việt Nam thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế (10/4/2013) xác định hội nhập kinh tế là trọng tâm, trong đó phải không ngừng cải thiện môi trường thu hút đầu tư nước ngoài, gắn thu hút đầu tư với giám sát quá trình thực thi, bảo đảm an ninh kinh tế, hiệu quả kinh tế - xã hội – môi trường; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, quản lý chặt chẽ nợ công. Việt Nam cũng thể hiện vai trò chủ động, tích cực trong các liên kết kinh tế quốc tế như tại APEC, các hợp tác tiểu khu vực, tiểu vùng, tham gia đàm phán nhiều Hiệp định tự do thương mại, đặc biệt là Hiệp định tự do thương mại với EU, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương…

2. Quyền sở hữu

Quyền sở hữu là một trong những quyền quan trọng, được ghi nhận tại Điều 32, Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”. Đồng thời, Điều 32 Hiến pháp cũng khẳng định “Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường”. Việc quy định rõ hơn về sở hữu tư nhân trong Hiến pháp 2013, trong đó có việc mở rộng chủ thể của quyền này từ “công dân” sang “mọi người” đã đáp ứng yêu cầu của việc hội nhập quốc tế, khi mà các thể nhân, pháp nhân nước ngoài có mặt làm ăn, sinh sống ngày càng nhiều ở Việt Nam.

Quyền sở hữu cũng được cụ thể hóa tại các văn bản luật và dưới luật. Điều 163, Bộ luật Dân sự sửa đổi khẳng định quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ, không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất cứ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình; yêu cầu tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 169, 170 Bộ luật Dân sự sửa đổi).

Việc bảo đảm quyền sở hữu, trong đó bao gồm bảo đảm vốn và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư đã được quy định cụ thể tại Điều 9 luật Đầu tư 2014, theo đó, vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố việc trưng mua, trưng dụng. Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư. Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật, Nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài: Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư; thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh; tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư (Điều 11 luật Đầu tư 2014).

3. Quyền tự do kinh doanh

Bảo đảm quyền cho người dân được tự do kinh doanh là một trong những chính sách, chủ trương quan trọng của Nhà nước Việt Nam, phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cầm”. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ.
Quyền tự do kinh doanh đã được cụ thể hóa tại các luật và các văn bản dưới luật có liên quan. Điều 7 và Điều 8 của luật Doanh nghiệp năm 2014 ghi nhận quyền tự do kinh doanh, gồm: Quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư; hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn; chủ động mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh; tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích; chủ động ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh; chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp.

Với những chính sách thuật lợi cho người dân thực hiện quyền tự do kinh doanh, số lượng doanh nghiệp đã không ngừng phát triển và gia tăng trong những năm vừa qua. Ước tính mỗi năm có khoảng 70.000 doanh nghiệp được thành lập mới và đi vào hoạt động. Riêng trong năm 2014 đã có 74.842 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới.

4. Bảo đảm an sinh xã hội.

Nhà nước Việt Nam chủ trương đặt chính sách bảo đảm an sinh xã hội ngang tầm với chính sách kinh tế, được thực hiện phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ, đồng thời có trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn, với mục tiêu đến năm 2020 có khoảng 2,5 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên, trong đó trên 30% là người cao tuổi, 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế.

Hiến pháp 2013 nêu rõ “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (Điều 34). Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam đang được thực hiện theo 3 nhóm chính sách, gồm: Nhóm chính sách phòng ngừa rủi ro, tập trung vào việc làm bền vững; Nhóm chính sách giảm thiểu rủi ro, gồm bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; Nhóm chính sách khắc phục rủi ro, bao gồm chính sách trợ cấp xã hội và các dịch vụ xã hội cơ bản.

Các chính sách, chương trình giảm nghèo đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an sinh xã hội cho người nghèo trên ba phương diện: Tăng cường tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở và nước sinh hoạt; hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập thông qua các chính sách tín dụng ưu đãi, đất sản xuất, khuyến nông – lâm – ngư, phát triển ngành nghề, xuất khẩu lao động; phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã đặc biệt khó khăn. Các chính sách này cũng hỗ trợ cả cho các hộ cận nghèo nhằm thoát nghèo bền vững, giảm thiểu tình trạng tái nghèo.

Các chính sách an sinh xã hội đã góp phần giảm nghèo hiệu quả. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% năm 2010 xuống dưới 4,5% năm 2015, bình quân giảm 2%/năm. Chỉ tính riêng trong năm 2014, tổng vốn ngân sách Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo là 30.840 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách Nhà nước bố trí cho các chương trình giảm nghèo là 7.020,67 tỷ đồng cụ thể là:

- Chỉ từ ngân sách 12.822 tỷ đồng để hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, hỗ trợ người thuộc hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên; do đó, đã có 2,6 triệu lượt người thuộc hộ cận nghèo được cấp, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế; 22 triệu lượt người nghèo, dân tộc thiểu số và trẻ em dưới 6 tuổi được  cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí; nâng tổng số dân sử dụng bảo hiểm y tế lên 70,8% tính đến hết năm 2014.

- Nhà nước cũng hỗ trợ 10.058 tỷ đồng để thực hiện các chính sách giảm nghèo trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo như miễn giảm học phí cho con hộ nghèo, trợ cấp học bổng, hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ 3-5 tuổi.

- Nhà nước chi 700 tỷ đồng để thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo.

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng việc triển khai các chính sách an sinh xã hội vẫn còn nhiều khó khăn, trong đó đối tượng thụ hưởng chính sách, mức độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội chưa cao, nhu cầu cơ bản của một bộ phận dân cư khó khăn chưa được bảo đảm kịp thời, mức trợ cấp xã hội còn hạn chế. Bên cạnh đó, các tác động tiêu cực của thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng hoảng tài chính toàn cầu tếp tục là những thách thức không nhỏ cho việc bảo đảm an sinh xã hội tại Việt Nam.

5. Quyền có việc làm và phát triển thị trường lao động

Với khoảng 54,48 triệu người trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên), để phát triển thị trường lao động và tạo việc làm, Chính phủ Việt Nam quan tâm củng cố hệ thống chính sách, pháp luật về lao động và nâng cao hiệu quả các biện pháp triển khai trên thực tế.

Hiến pháp 2013 có các quy định cụ thể về lĩnh vực lao động, việc làm bao gồm quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; quyền được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi, đồng thời nghiêm cấm việc phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực này như quy định tại Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.

Bên cạnh Bộ luật Lao động năm 2012 (sửa đổi) và luật Việc làm (2013), Việt Nam đã thông qua luật An toàn vệ sinh lao động (tháng 6/2015) và đang tiến hành sửa đổi luật Bảo hiểm xã hội, luật Dạy nghề, luật Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và có thời hạn, đồng thời đang xây dựng mới luật Tiền lương tối thiểu. Đặc biệt, người lao động thất nghiệp sẽ được nhận trợ cấp thất nghiệp thông qua chính sách bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc được triển thực hiện từ năm 2009.

Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012-2015 tiếp tục góp phần phát triển thị trường lao động và tạo việc làm thông qua việc tăng cường năng lực, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, cung cấp tín dụng từ Quỹ Việc làm quốc gia. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về kinh tế cũng từng bước được hoàn thiện (luật Đất đai, luật Đầu tư, luật Doanh nghiệp, luật Hợp tác xã, luật Thuế, luật Phá sản…), giúp giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện cho thị trường lao động phát triển.

Việt Nam đã phê chuẩn 20 Công ước của Tổ chức của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó, đáng chú ý có 5 Công ước cơ bản về các vấn đề lao động, việc làm. Riêng trong các năm 2013 và 2014, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước số 122 về Chính sách Việc làm và Công ước số 186 về Lao động hàng hải (8/5/2013); Công ước 187 về Khung chính sách thúc đẩy an toàn vệ sinh lao động (23/1/2014).

Kể từ sau khi Việt Nam giai nhập WTO năm 2007, thị trường lao động Việt Nam đã phát triển và hoàn thiện hơn, đặc biệt các chương trình phát triển thị trường lao động đã hỗ trợ nhiều người dân có việc làm và tăng thu nhập. Nhờ vậy, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động năm 2014 là 2,45%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 1,18% và ở nông thôn là 3,01%; chất lượng việc làm, năng suất lao động được củng cố; thu nhập bình quân của người lao động tăng lên. Trong giai đoạn 2011-2015, cả nước đã tạo việc làm cho hơn 7,8 triệu lao động, khoảng 8,6 triệu lao động được đào tạo, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 51,6%. Từ năm 2009 đến nay, Chính phủ đã nhiều lần điều chỉnh tiền lương tối thiểu nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động. Mạng lưới Trung tâm Dịch vụ việc làm được củng cố. Trung tâm Dự báo và Thông tin thị trường lao động bước đầu được hình thành và vận hành tương đối tốt.

Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tính đến tháng 7/2015, đã có 9.924.487 người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (chiếm 85% tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc); số lượt người được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 2.119.253 người, chiếm 97,4% số người nộp hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp, với mức hỗ trợ bình quân năm 2014 là 1,87-2,27 triệu đồng/tháng. Quỹ Quốc gia về việc làm đã tạo điều kiện cho các nhóm đối tượng thiết yếu như lao động là người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, lao động ở vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp có cơ hội vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho bản thân và cộng đồng. Kết nối cung – cầu lao động bước đầu đã được cải thiện: Các kênh giao dịch trên thị trường lao động ngày càng đa dạng, trong đó mạng lưới cơ sở dịch vụ việc làm đã phát triển với hai loại hình Trung tâm Giới thiệu việc làm Nhà nước (130 Trung tâm) và các doanh nghiệp Dịch vụ việc làm tư nhân (trên 100 doanh nghiệp). Hoạt động của các Trung tâm Giới thiệu việc làm từng bước được hoàn thiện. Các sàn giao dịch việc làm đã được các địa phương tổ chức và hoạt động nhằm kết nối nhiều hơn cung – cầu về lao động.

Mạng lưới các cơ sở dạy nghề được tiếp tục củng cố và phát triển. Dạy nghề đã từng bước gắn với nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu của doanh nghiệp và từng bước hội nhập quốc tế. Cơ cấu ngành nghề đào tạo đang từng bước điều chỉnh theo cơ cấu ngành nghề sản xuất, kinh doanh. Hình thức đào tạo nghề đã phong phú, đa dạng hơn. Cả nước hiện có 1.399 cơ sở dạy nghề, bao gồm: 136 trường cao đẳng nghề, 308 trường trung cấp nghề và 849 trung tâm dạy nghề, hơn 266 trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học có dạy nghề.

Thời gian tới, nhằm bảo đảm quyền có việc làm và phát triển thị trường lao động phù hợp với điều kiện trong nước và hội nhập quốc tế, Chính phủ Việt Nam tập trung vào các nhóm giải pháp sau:

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đẩy mạng đào tạo kỹ năng, năng lực thực hành đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế; phát triển hệ thống giáo dục, chuẩn hóa chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế; bảo đảm phân bố lao động đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.

- Thúc đẩy thực hiện cơ chế thương lượng, thỏa thuận về tiền lương nhằm bảo đảm tiền lương thực tế được trả đúng theo cơ chế thị trường và phù hợp với sự đóng góp của người lao động.

- Thúc đẩy quá trình tự do lựa chọn việc làm và dịch chuyển lao động (dịch chuyển dọc theo các cấp trình độ, dịch chuyển ngang giữa các thành phần sở hữu, khu vực, vùng và quốc tế), đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; tích cực triển khai các chương trình đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn và theo hợp đồng.

- Xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng của thị trường lao động (hướng nghiệp, dịch vụ việc làm, thông tin thị trường lao động) và tổ chức cung cấp các dịch vụ công có hiệu quả; xây dựng hệ thống thôn tin thị trường lao động, hệ thống Sàn giao dịch việc làm, đầu tư nâng cao năng lực các Trung tâm Dịch vụ việc làm nhằm tăng cường kết nối cung – cầu lao động.

- Hỗ trợ các nhóm dễ bị tốn thương trong thị trường lao động, tăng cường an sinh xã hội cho người lao động trong thời gian đi làm và chuyển đổi việc làm; tăng cường sự tham gia của người lao động vào chế độ bảo hiểm xã hội.

- Xây dựng quan hệ lao động lành mạnh và nâng cao năng lực của các chủ thể trên thị trường lao động, đặc biệt là năng lực của Nhà nước trong quản lý, tổ chức, điều tiết và hỗ trợ thị trường lao động phát triển.

6. Quyền được chăm sóc sức khỏe

Bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam trong chiến lược phát triển, trong đó chú trọng các đối tượng dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số, người nghèo, người ở vùng sâu vùng xa, Điều 38, Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế”.

Việt Nam đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Nhân dân như: Luật Bảo vệ sức khỏe Nhân dân; luật Khám bệnh, chữa bệnh; luật Hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác; luật An toàn thực phẩm; luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm; luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); luật Bảo hiểm y tế; luật Dược; luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, Pháp lệnh dân số… Việt Nam đang xem xét, sửa đổi luật Bảo hiểm y tế; xây dựng luật Phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia; luật về máu và tế bào gốc… theo hướng đổi mới, bảo đảm công bằng và tính tiếp cận cao, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe cho toàn dân.

Chính phủ cũng đã thông qua và triển khai Chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân giai đoạn 2011-2020. Nhờ đó, tính đến năm 2014, cả nước có 1.264 bệnh viện với tổng số 235.214 giường bệnh, đạt tỷ lệ 25,04 giường/10.000 dân. Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ này thuộc loại cao nhất khu vực Đông Nam Á.

Việt Nam đã có những bước tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) liên quan đến sức khỏe. Cụ thể, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi năm 2014 là 15%, giảm 60% so với năm 1990, vượt mục tiêu đề ra là giảm 50%. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi/1.000 trẻ đẻ sống giảm từ 44,4 (năm 1990) xuống còn 14,9 (năm 2014) và có khả năng tiếp tục giảm thêm. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi/1.000 trẻ giảm từ 58 (năm 1990) xuống còn 22,4 (năm 2014).

Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm phòng bệnh sởi đã tăng từ 55% (năm 1990) lên 98,2% đến năm 2014, đạt chỉ tiêu đề ra. Tỷ số tử vong mẹ đã giảm đáng kể, từ 233/100.000 ca (năm 1990) xuống còn 61,9/100.000 ca vào năm 2013. Tỷ lệ các ca sinh được hỗ trợ của cán bộ y tế luôn được duy trì tỷ lệ cao trên 97% từ 2010 đến nay. Công tác phòng chống sốt rét đạt được kết quả khả quan.

Trong giai đoạn 2010-2014, tỷ lệ mắc sốt rét giảm từ 63 xuống còn 27/100.000 dân; tỷ lệ tử vong giảm từ 0,02 xuống còn 0,01/100.000 dân. Việt Nam đã thanh toán hoàn toàn bệnh bại liệt và bệnh uốn ván sơ sinh. Chương trình phòng chống lao bao phủ 100% các địa phương, tỷ lệ mắc bệnh lao giảm còn 187/100.000 dân (năm 2015); 92% các ca bệnh lao phát hiện hàng năm được chữa khỏi.

Nhân lực y tế tiếp tục được phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. 100% số xã và 96,6% số thôn bản có nhân viên y tế; trong đó 76% số xã có bác sĩ; 93,4% số xã có y sĩ sản nhi hoặc hộ sinh. Việt Nam tiếp tục chính sách hỗ trợ đào tạo nhân lực y tế cho các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; đồng thời khuyến khích đào tạo và phát triển nhân lực ở các chuyên ngành đặc thù như lao, phong, tâm thần, pháp y, giải phẫu bệnh; triển khai các đề án hỗ trợ tạm thời hoặc lâu dài cho các vùng khó khăn như Đề án luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại các cơ sở khám chữa bệnh, Đề án bác sĩ gia đình, Đề án phát triển y tế biển đảo, Đề án y tế nông thôn nhằm bảo đảm đủ nhân lực cho công tác chăm sóc và nâng cao sức khỏe N hân dân trên phạm vi toàn quốc.

Chi cho y tế từ ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2008-2013 tăng bình quân 34,2%/năm, cao hơn tổng chi thường xuyên của ngân sách Nhà nước là 20%. Chi cho hoạt động y tế dự phòng chiếm khoảng 31,32% tổng chi ngân sách Nhà nước cho ngành Y tế. Nhà nước cấp 1.700 tỷ đồng cho các chương trình mục tiêu y tế quốc gia. Bộ Y tế cũng đang quản lý 52 dự án ODA với tổng giá trị khoảng 1,5 tỷ đô la Mỹ. Việt Nam chủ trương triển khai Bảo hiểm y tế toàn dân nhằm tạo thuận lợi hơn cho người dân tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế. Đến tháng 12/2013, Bảo hiểm y tế đã bao phủ khoảng 69% dân số.

Ngành Y tế đã bảo đảm đủ thuốc, từng bước chủ động nguồn thuốc và vắc xin. Việt Nam hiện đã sản xuất được 10 loại vắc xin, đáp ứng trên 80% nhu cầu sử dụng vắc xin trong nước. Nhà nước cũng đã đầu tư nâng cấp nhiều cơ sở y tế các tuyến, bảo đảm đủ cơ sở vật chất cho công tác khám chữa bệnh và y tế dự phòng, cũng như hệ thống xử lý chất thải rắn và lỏng đạt tiêu chuẩn.

Việt Nam cũng thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế trong linh vực y tế để tranh thủ tối đa nguồn lực cho việc bảo đảm tốt hơn quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân. Cụ thể là, Việt Nam đã là thành viên của Diễn đàn đối tác Y tế thế giới (IHP+) và tích cực tham gia các diễn đàn y tế khu vực và quốc tế khác. Trong nhiều năm liền, Việt Nam định kỳ tổ chức diễn đàn Nhóm đối tác Y tế trong nước với các đối tác phát triển nhằm điều phối và tăng cường hiệu quả các nguồn vốn viện trợ; thành lập nhóm nòng cốt trong công tác ngoại giao y tế toàn cầu nhằm chủ động tham gia một cách có hiệu quả trong các diễn đàn y tế thế giới như Đại Hội đồng Y tế Thế giới (WHA), Hội nghị Bộ trưởng Y tế ASEAN, Cơ chế phối hợp khu vực (RCM), Hội nghị cấp cao Y tế toàn cầu... Hiện nay, 43 chương trình/dự án ODA và 106 dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài trong lĩnh vực y tế được triển khai có hiệu quả tại Việt Nam, trong đó dành ưu tiên cho các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

7. Quyền có nhà ở

Có nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu của mọi tầng lớp Nhân dân. Hiến pháp 2013 khẳng định: “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp” (Điều 22, khoản 1); “Mọi người có quyền sở hữu về nhà ở" (Điều 32, khoản 1) và “Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở” (Điều 59, khoản 3). Luật Nhà ở năm 2014 quy định công dân có quyền có chỗ ở và quyền sở hữu nhà ở (Điều 4); Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp về nhà ở của các chủ sở hữu; nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không bị quốc hữu hóa; trong trường hợp quyết định trưng mua, trưng dụng, mua trước nhà ở hoặc giải tỏa nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường, hỗ trợ và thực hiện chính sách tái định cư cho chủ sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật (Điều 5).

Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành các Nghị quyết và Quyết định nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến nhà ở gồm: Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 20/4/2009 của Chính phủ về Một số cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển nhà ở cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo và nhà ở cho công nhân lao động tại khu công nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị, kèm theo Quyết định 70/2010/QĐ-TTg ngày 5/11/2010 đã sửa đổi bổ sung Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề thuê; Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của thủ tướng Chính phủ ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp thuê; Quyết định số 67/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị; Quyết định số 716/QĐ-TTg ngày 14/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc Triển khai thí điểm giải pháp hỗ trợ hộ nghèo nâng cao điều kiện an toàn chỗ ở, ứng phó lũ, lụt vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung; Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo tại nông thôn; Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg ngày 10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015.

(Còn nữa)

Tòa soạn

11,879
Viết bình luận mới
Thăm dò ý kiến

Một thời gian dài, tình trạng sạt lở do khai thác cát dọc sông Krông Nô, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất người dân. Trong khi đó, việc xử lý, khắc phục còn chưa triệt để. Theo bạn đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên?