HOTLINE: 0834 244 333   |   THƯ VIỆN   |   ĐẶT LÀM TRANG CHỦ

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận 26 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Cập nhật ngày: 12/06/2015 | 08:50 GMT+7

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa có Quyết định số 1877/QĐ-BVHTTDL về việc công nhận 26 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Những di sản văn hóa phi vật thể này thuộc các loại hình: lễ hội truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian, tập quán xã hội và tín ngưỡng.

Biểu diễn ca Huế trên thuyền. (Ảnh: Báo Ảnh Việt Nam/TTXVN)

Cụ thể, các di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia được công nhận trong đợt này gồm:

1/ Lễ hội Đình Vồng (xã Song Vân, huyện Tân Yên, Bắc Giang).

2/ Lễ hội Y Sơn (xã Hòa Sơn, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang).

3/ Lễ hội đền Suối Mỡ (xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, Bắc Giang).

4/ Nghệ thuật Múa khèn của người Mông (Bắc Kạn).

5/ Lễ Cấp sắc của người Tày (Bắc Kạn).

6/ Nghệ thuật Tuồng xứ Quảng (Đà Nẵng).

7/ Lễ Kin pang then của người Thái trắng (thị xã Mường Lay, Điện Biên).

8/ Tết Nào pê chầu của người Mông đen (xã Mường Đăng, huyện Mường Ẳng, Điện Biên).

9/ Lễ hội đền Hoàng Công Chất (xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên, Điện Biên).

10/ Lễ cầu mưa của Yang Pơtao Apui (Gia Lai).

11/ Lễ hội Quỹa Hiéng (Lễ hội qua năm) của người Dao đỏ (xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang).

12/ Nghi lễ Then của người Tày (Hà Giang).

13/ Lễ hội đình Trịnh Xuyên (xã Nghĩa An, huyện Ninh Giang, Hải Dương).

14/ Lễ hội Chùa Hào Xá (xã Thanh Xá, huyện Thanh Hà, Hải Dương).

15/ Lễ hội đền Kỳ Cùng-đền Tả Phủ (Lạng Sơn).

16/ Lễ hội Bủng kham (xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, Lạng Sơn).

17/ Lễ hội Ná nhèm (xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn, Lạng Sơn).

18/ Nghệ thuật Xòe Thái (Lai Châu).

19/ Nghệ thuật Xòe Thái ở Mường Lò-Nghĩa Lộ (thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái).

20/ Nghệ thuật Xòe Thái (Sơn La).

21/ Lễ Hết chá của người Thái (xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, Sơn La).

22/ Hát nhà tơ (hát cửa đình) (Quảng Ninh).

23/ Rối cạn của người Tày ở Thẩm Rộc và Ru Nghệ (xã Bình Yên, xã Đồng Thịnh, huyện Định Hóa, Thái Nguyên).

24/ Ca Huế (Thừa Thiên Huế).

25/ Hát Sọong cô của người Sán Dìu (xã Sơn Nam, xã Thiện Kế, xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang).

26/ Kéo co truyền thống (Tuyên Quang).

Trước đó, ngày 2/6, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có văn bản số 2189/BVHTTDL-DSVH gửi UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương về việc xây dựng và phê duyệt dự án bảo vệ và phát huy giá trị các di sản trong Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Theo đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị UBND các tỉnh/thành phố tiếp tục bố trí kinh phí để sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai tổng kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh/thành phố; trên cơ sở đó lựa chọn di sản tiêu biểu để lập hồ sơ khoa học đề nghị đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Bên cạnh đó, đối với những di sản đã được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, UBND các tỉnh/thành phố khẩn trương chỉ đạo sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch lập và triển khai Dự án bảo tồn và phát huy giá trị gửi Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch thỏa thuận trước khi trình UBND tỉnh/thành phố phê duyệt. Dự án cần tập trung vào hai nội dung cơ bản: truyền dạy kỹ năng, bí quyết và quảng bá, giới thiệu giá trị của di sản văn hóa phi vật thể.

Theo quy định tại Thông tư 04/2010/TT-BVHTTDL, các di sản văn hóa phi vật thể được lập hồ sơ khoa học để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia phải có đủ các tiêu chí: có tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng, địa phương; phản ánh sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của con người, được kế tục qua nhiều thế hệ; có khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài; được cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ.

Các loại hình di sản văn hóa phi vật thể trong diện kiểm kê để lập hồ sơ khoa học, đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia bao gồm:

1/ Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam.

2/ Ngữ văn dân gian.

3/ Nghệ thuật trình diễn dân gian.

4/ Tập quán xã hội.

5/ Lễ hội truyền thống.

6/ Nghề thủ công truyền thống.

7/ Tri thức dân gian.

Nguồn TTXVN

3,238
Viết bình luận mới
Thăm dò ý kiến

Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Nông lần thứ XI đề ra mục tiêu: "Đến năm 2020, Đắk Nông phấn đấu thoát khỏi tình trạng tỉnh nghèo, kém phát triển". Theo bạn khả năng thực hiện mục tiêu trên như thế nào?