HOTLINE: 0834 244 333   |   THƯ VIỆN   |   ĐẶT LÀM TRANG CHỦ

Bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: Rộn rã âm thanh Đại ngàn

Cập nhật ngày: 20/07/2012 | 15:19 GMT+7

Vào ngày 15/11/2005, không gian văn hóa cồng chiêng (KGVHCC) Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Di sản truyền khẩu phi vật thể của nhân loại. Từ đó đến nay, công tác bảo tồn bản sắc văn hóa và phát huy giá trị của KGVHCC đã được các tỉnh Tây Nguyên rất chú trọng...

Vào ngày 15/11/2005, không gian văn hóa cồng chiêng (KGVHCC) Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Di sản truyền khẩu phi vật thể của nhân loại. Từ đó đến nay, công tác bảo tồn bản sắc văn hóa và phát huy giá trị của KGVHCC đã được các tỉnh Tây Nguyên rất chú trọng.

 

Theo đó, bằng nhiều nguồn kinh phí khác nhau, các địa phương đã tập trung vào việc khôi phục các lễ hội truyền thống, trang bị, truyền dạy cồng chiêng cho thế hệ trẻ và thành lập các câu lạc bộ cồng chiêng ở các bon, buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Nhờ đó, sau nhiều năm bị rơi vào quên lãng, tiếng cồng chiêng lại rộn rã âm thanh của đại ngàn.



Múa xòe ngân theo tiếng chiêng của các chàng trai và cô gái dân tộc Mạ

Ảnh: Y Krăk


Trước khi KGVHCC Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Di sản truyền khẩu phi vật thể của nhân loại thì ở Tây Nguyên có một thực tế đáng báo động là nhiều bon, buôn đồng bào các dân tộc tại chỗ không chú trọng đến việc bảo tồn cồng chiêng. Thậm chí có một thời gian, cồng chiêng bị “chảy máu”.

 

Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều nơi bà con bỏ tín ngưỡng đa thần, các nghệ nhân biết đánh chiêng ngày càng ít đi và nhiều lễ hội, lễ nghi truyền thống không còn được tổ chức, còn thế hệ trẻ thì phần nhiều thờ ơ với văn hóa truyền thống của dân tộc mình...

 

Theo các nhà chuyên môn thì trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2005, số lượng các bộ cồng chiêng của các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên đã mất đi một nửa so với số lượng vốn có của nó. Nếu không kịp thời có biện pháp bảo tồn, phát huy thì nguy cơ mai một là không thể tránh khỏi.

 

Thế nhưng, với sự vào cuộc của những nhà chuyên môn và những người có trách nhiệm ở địa phương và Trung ương, KGVHCC, một di sản qúy báu đã được UNESCO công nhận. Từ đó đến nay, các địa phương đã dành nhiều kinh phí, công sức cho công tác bảo tồn và phát huy vai trò của cồng chiêng trong cộng đồng.

 

Tại Đắk Nông, 2 năm sau khi tỉnh được thành lập, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng địa phương vẫn dành gần 5 tỷ đồng để thực hiện Đề án “Bảo tồn lễ hội, hoa văn, cồng chiêng và nhạc cụ dân tộc M’nông, giai đoạn 2006-2010".

 

Qua đó, tỉnh đã khôi phục được 30 lễ hội lớn nhỏ của đồng bào M’nông và trang bị cồng chiêng cho nhiều bon không có cồng chiêng. Cũng trong quãng thời gian trên, tỉnh Đắk Nông còn được UNESCO tài trợ trên 100.000 USD để bảo tồn KGVHCC tại địa bàn.

 

Từ nguồn kinh phí của dự án, địa phương đã tiến hành thành lập được 8 đội cồng chiêng tiêu biểu, xây dựng quy chế hoạt động của câu lạc bộ, sau đó đã nhân rộng mô hình này. Ngoài ra, địa phương còn chú trọng vào công tác truyền dạy cồng chiêng ngay tại bon, buôn cho thế hệ trẻ.

 

Tiếp sau các đề án trên, hiện nay tỉnh Đắk Nông đã và đang tiếp tục triển khai Đề án “Bảo tồn lễ hội, cồng chiêng các dân tộc bản địa tỉnh, giai đoạn 2011 -2015” với tổng kinh phí 10 tỷ đồng. Đề án này ngoài việc chú trọng việc khôi phục lễ hội thì ngành Văn hóa cũng tiếp tục chú trọng công tác truyền dạy cồng chiêng cho thế hệ trẻ, trang bị cồng chiêng cho những bon, buôn còn thiếu và chú trọng vào việc nâng cao năng lực cho đội ngũ nghệ nhân... Trong công tác truyền dạy thì ngành sẽ đào tạo ở mỗi đội chiêng và mỗi nghệ nhân phải diễn tấu thuần thục 5 bài chiêng cơ bản của dân tộc mình. Ngoài ra, cứ hai năm một lần, địa phương còn tổ chức Ngày hội văn hóa dân gian các dân tộc tỉnh để đánh giá, nhìn nhận lại công tác bảo tồn của từng huyện, thị xã và tạo điều kiện cho các nghệ nhân các dân tộc có dịp trao đổi kinh nghiệm, giao lưu.


Đắm mình trong tiếng chiêng của các chàng trai, cô gái M’nông. Ảnh: Y Krăk


Còn ở tỉnh Đắk Lắk, trong giai đoạn 2007 -2010, địa phương này cũng đã dành trên 6 tỷ đồng để bảo tồn và phát huy giá trị cồng chiêng của các dân tộc bản địa tại địa bàn. Đặc biệt, giai đoạn 2012 -2015, Đắk Lắk còn dành tới 48,8 tỷ đồng để bảo tồn.

 

Với nguồn vốn trên, Đắk Lắk  đã mở hàng trăm lớp truyền dạy cồng chiêng cho thanh, thiếu niên đồng bào các dân tộc Ê đê, M’nông, J’rai. Địa phương còn chú trọng vào việc phục dựng các lễ hội truyền thống gắn với môi trường diễn xướng văn hóa cồng chiêng. Nhờ đó mà đến nay, toàn tỉnh Đắk Lắk có tới 3.855 nghệ nhân biết diễn tấu cồng chiêng, trong đó có 330 đội chiêng trẻ là con em đồng bào các dân tộc bản địa.

 

Ở Gia Lai, ngành Văn hóa địa phương cũng hết sức chú trọng vào việc bảo tồn và khôi phục các lễ hội truyền thống của các dân tộc bản địa như lễ bỏ mả của dân tộc Ba Na; lễ cầu mưa, lễ cúng lúa mới của dân tộc Jrai…

 

Đồng thời, địa phương rất chú trọng đến công tác tuyên truyền ý thức bảo tồn và giữ gìn những bộ cồng chiêng cổ cho đồng bào. Nhờ đó, toàn tỉnh Gia Lai hiện có tới trên 5.600 bộ cồng chiêng, trong đó phần lớn là chiêng cổ.

 

Tại tỉnh Lâm Đồng, địa phương cũng đã và đang triển khai Đề án “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng 2009-2015”.

 

Theo đó, từ nguồn kinh phí được phân bổ hàng năm, địa phương đã và sẽ chú trọng vào việc tổ chức khôi phục các lễ hội dân gian của các dân tộc bản địa như K’Ho, Mạ, Chu Ru. Song song với việc khôi phục lễ hội cũng chú trọng vào việc truyền dạy cồng chiêng cho thế hệ trẻ.

 

Đặc biệt, Lâm Đồng rất chú trọng đến việc bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch, qua đó góp phần nâng cao thu nhập cho bà con.

 

Mỗi địa phương ở Tây Nguyên đều có cách riêng để bảo tồn và phát huy giá trị cồng chiêng nhưng đều cùng chung một điểm là đang hướng tới việc bảo tồn một cách bền vững. GS –TS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trong một chuyến công tác về Đắk Nông đã có nhận xét: “So với trước đây, hiện nay, một số lễ hội tổ chức ở Tây Nguyên đã mất đi nhiều yếu tố nguyên bản. Bởi vì, lễ hội là môi trường diễn tấu lý tưởng của cồng chiêng. Vì vậy, việc tổ chức lễ hội cần phải có sự đồng thuận cao của bà con đồng bào bản địa thì mới thật sự hiệu quả. Tôi rất mừng là các địa phương đã nhận ra điều đó và đang hướng tới việc bảo tồn bền vững thông qua việc ngày càng có nhiều lễ hội được tổ chức ngay tại bon làng của bà con. Với những nỗ lực của các địa phương, nhất định tiếng cồng chiêng của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên sẽ rộn rã và trường tồn”.

 

Hoàng Thanh

3,554
Viết bình luận mới
Thăm dò ý kiến

Một thời gian dài, tình trạng sạt lở do khai thác cát dọc sông Krông Nô, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất người dân. Trong khi đó, việc xử lý, khắc phục còn chưa triệt để. Theo bạn đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên?