HOTLINE: 01234 244 333   |   THÔNG TIN TÒA SOẠN   |   ĐẶT LÀM TRANG CHỦ
quà tặng doanh nghiệp

Nâm Nung - Vùng đất, con người và truyền thống

Cập nhật ngày: 15/12/2017 | 09:02 GMT+7

Lời Tòa soạn: Để cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ hơn về truyền thống cách mạng, về vùng đất và con người Đắk Nông, Báo Đắk Nông trân trọng giới thiệu một số nội dung trong cuốn sách “Lịch sử căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1959-1975)” do Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo thực hiện, Nhà Xuất bản Lý luận Chính trị phát hành. Cuốn sách gồm 3 chương: Chương I: Vùng đất-Con người và truyền thống; Chương II: Tỉnh Quảng Đức được thành lập, đảm nhận nhiệm vụ xây dựng căn cứ và hành lang chiến lược địa bàn Tây Nguyên xuống chiến trường Đông Nam bộ (1954-1960); Chương III: Cuộc đấu tranh chống Mỹ và bảo vệ hành lang chiến lược Bắc-Nam trên địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1961-1975).

Hiện nay, di tích lịch sử cách mạng căn cứ kháng chiến Nâm Nung (còn gọi là căn cứ kháng chiến B4 – Liên tỉnh IV) gồm hai địa điểm Bắc Nâm Nung và Nam Nâm Nung thuộc địa bàn huyện Krông Nô và huyện Đắk Glong.

Núi Nâm Nung (Krông Nô). Ảnh: Ngọc Tâm

Di tích lịch sử cách mạng căn cứ kháng chiến Bắc Nâm Nung trải dài trên địa bàn xã Nâm Nung, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Phía Bắc giáp với xã Đắk Rồ, phía Đông Nam giáp với xã Nâm N’Dri, phía Tây Bắc giáp với xã Đắk Rồ và xã Đắk Môl, huyện Đắk Song, phía Nam giáp với xã Nâm N’Dri. Căn cứ kháng chiến Nam Nâm Nung nằm ở phía núi Nâm Jer Bri, trực thuộc địa phận Khu Bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung và Lâm trường Đắk N’Tao (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk N’Tao) trên địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, phía Bắc giáp với xã Đắk Môl và Nâm N’Dri, huyện Krông Nô, phía Đông giáp với núi Yok Nor Tou Rdéh, phía Tây giáp với xã Đắk N’Drung và phía Nam giáp với suối Đắk Rung.

Căn cứ kháng chiến Nâm Nung thuộc vùng đất cao nguyên có địa hình hiểm trở, nhiều đồi núi, rừng rậm nguyên sinh, đỉnh cao nhất là 1.546m so với mực nước biển, tạo thế liên hoàn theo hướng Đông Nam. Từ Nâm Nung nối liền với xã Nâm Xoni là căn cứ vững chắc của huyện Khuyên Đức nối liền dãy núi Tà Đùng, phía Tây dãy Tà Đùng là xã Quảng Khê (huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông), phía Nam là căn cứ kháng chiến tỉnh Lâm Đồng, tạo thành địa thế hiểm trở, núi liền núi, sông liền sông, tạo thế vững chắc cho căn cứ kháng chiến của tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng... trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; thuận lợi cho việc đóng quân, xây dựng và bảo toàn lực lượng cách mạng, đi lại và chiến đấu trong vùng căn cứ.

Đất đai màu mỡ, chủ yếu là đất đỏ bazan, được thiên nhiên kiến tạo nhiều ao hồ, đầm lầy, suối rạch, thuận lợi cho việc phát triển cây lương thực, thực phẩm vừa bảo đảm cho nhu cầu lương thực tại chỗ phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ, thuận lợi cho phát triển cây nông, công nghiệp, như: lúa, ngô, khoai, sắn, cà phê, bông, hồ tiêu,…

Nơi đây chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm. Một năm chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (dương lịch), mùa khô từ tháng 11 đến cuối tháng 3 năm sau. Mưa nhiều vào tháng 7, tháng 8, tháng 9, nắng nhiều vào tháng 1, tháng 2. Lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 2.178mm. Độ ẩm trung bình năm là 81%. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,2o. Nói chung khí hậu nơi đây tương đối mát mẻ, thuận lợi cho việc trồng, phơi sấy các sản phẩm nông, công nghiệp và chăn nuôi gia súc.

Trong tỉnh, đây là địa bàn quốc lộ 14 xuyên qua, là con đường huyết mạch giao lưu, buôn bán, trao đổi hàng hóa với các miền giữa các tỉnh Tây Nguyên với miền Đông Nam bộ. Căn cứ kháng chiến Nâm Nung có nhiều cảnh đẹp, là điều kiện tốt để xây dựng điểm văn hóa du lịch và góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung tập trung nhiều dân tộc anh em sinh sống, trong đó, dân tộc M’nông là dân tộc bản địa quần tụ lâu đời nhất nơi đây. Từ xa xưa, dân tộc M’nông được phân chia thành các nhóm địa phương như Pnông, Nông, Preh, Bu đâng, Đi Pri, Rơ lan, Chil…; mỗi nhóm địa phương vừa mang trong mình bản sắc chung của dân tộc M’nông, vừa mang một số sắc thái văn hóa riêng của các nhóm địa phương. Vùng căn cứ kháng chiến Nâm Nung với 7 bon đồng bào dân tộc M’nông Preh và 5 bon Nam Nâm Nung là đồng bào dân tộc Prơng…

Người M’nông sống chủ yếu bằng nông nghiệp, canh tác trên đất rẫy là chính. Theo tập quán lâu đời, việc sử dụng đất rẫy (mir) của đồng bào thường theo chế độ luân khoảnh khép kín và luân khoảnh mở rộng. Thời gian luân khoảnh trên đám rẫy tùy thuộc vào độ phì nhiêu của đất đai. Mỗi bon của người M’nông đều có một khu vực canh tác nhất định. Ranh giới đất đai của các bon thường được dựa vào những đặc điểm địa lý tự nhiên như ngọn suối, mỏm đá, đỉnh đồi… để làm mốc phân giới, do các chủ bon liên giới với nhau quy ước, thường đã xác định từ xa xưa và lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Cùng với kinh tế nương rẫy, người M’nông còn chăn nuôi gia súc gia cầm; săn bắt và hái lượm. Một số nghề thủ công của người M’nông đã đạt tới trình độ khá tinh tế như nghề dệt vải có hoa văn, đan lát đồ dùng gia đình bằng mây tre lá, nghề rèn cũng khá phổ biến nhằm rèn công cụ, sửa chữa những đồ dùng bằng sắt, rèn vũ khí (lao, xà gạc…) và một số công cụ khác bằng kim loại.

Truyền thống văn hóa đồng bào dân tộc trên địa bàn Nâm Nung, đặc biệt là nền văn hóa của dân tộc bản địa M’nông, Êđê… hết sức đặc sắc, gắn với hệ thống nghi lễ - lễ hội, liên quan chặt chẽ đến hệ thống thần linh và tín ngưỡng đa thần. Là những cư dân nông nghiệp, nên các lễ nghi đều phục vụ cho đời sống sinh hoạt hàng ngày, gắn với nông nghiệp hết sức phong phú như lễ trừ sâu bệnh, lễ cúng giữa vụ lúa, lúc lúa trổ đòng, lễ tuốt lúa, lễ cơm mới; những nghi lễ trong tang lễ, cưới hỏi, lễ lập bon mới,…

Trong lúc thanh bình cũng như trong quá trình kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, đồng bào các dân tộc nơi đây vẫn duy trì, tổ chức nhiều nghi lễ, lễ hội truyền thống đậm dấu ấn văn hóa đặc trưng của dân tộc, trong đó có lễ mừng chiến thắng vẫn được tổ chức trong kháng chiến. Có thể nói, những nghi lễ, lễ hội trên địa bàn Nâm Nung nói riêng, vùng Tây Nguyên nói chung rất phong phú, đa dạng, là chất keo gắn kết những con người của cộng đồng thành một khối vững chắc trong suốt quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc.

Trong quá trình lịch sử và cuộc sống hàng ngày của người M’nông, họ đã sáng tạo ra được một số loại nhạc cụ độc đáo, tuy còn rất thô sơ nhưng phong phú về số lượng và chủng loại: Bộ gõ có dàn chiêng (cĩng), trống (ding gơr), đàn môi (guốc)… Ca hát dân gian rất phong phú và đa dạng, hình thức truyền miệng được coi là phương tiện chủ yếu của đồng bào dùng để chuyển tải văn hóa từ vùng này sang vùng khác, từ đời này qua đời khác, tiêu biểu là những thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ, các luật tục dưới dạng văn vần hay hát đối đáp nam – nữ.

Trong trang phục hàng ngày, nghệ thuật tạo hình được thể hiện rất sinh động. Hoa văn trên nền vải của người M’nông chủ yếu tạo hình theo một mô tuýp truyền thống được cách điệu bằng nhiều hình thức khác nhau. Đàn ông thường đóng khố, rộng chừng 20cm và dài trên 1cm, đàn bà quấn yêng, lấy khăn che ngực. Trong những dịp lễ tết, đàn ông còn mặc thêm một cái áo ngắn không cổ, hở bụng và đàn bà thường quấn yêng màu tím đỏ. Cộng thêm vào đó là những trang sức đi cùng phục trang rất đa dạng. Họ thường đeo những vòng đồng, đeo chồng chất ở cổ tay, cổ chân, càng đeo nhiều càng thể hiện sự giàu sang.

Cũng như các dân tộc khác trên toàn miền sơn nguyên Nam Đông Dương, M’nông vùng căn cứ Nâm Nung là dân tộc có tinh thần yêu độc lập tự do, có truyền thống bất khuất chống xâm lược. Đặc biệt, từ những thế kỷ xa xưa đến thời kỳ cận đại, họ là những dân tộc luôn gìn giữ được cuộc sống độc lập tự do cho quê hương. Khi kẻ thù xâm lược tàn phá quê hương, bon rẫy thì tinh thần yêu nước cũng được nhen nhóm và bùng nổ, kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ quê hương.

Những cuộc đấu tranh trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

Năm 1856, trong lúc triều đình nhà Nguyễn khủng hoảng trầm trọng, nông dân khắp nơi nổi dậy, chính quyền phong kiến ở nhiều địa phương bị tê liệt. Bên ngoài giặc Pháp đang lăm le tìm cớ để vũ trang xâm lược Việt Nam. Nắm được thời cơ thuận tiện, các giáo sĩ ở hội thánh Ba Na liền lập ngay một tòa đại lý ở Kon Tum để cai trị xứ này. Tòa đại lý gồm những quan cai trị mặc áo đen, đeo thập ác, từ năm 1889 trở về sau trực thuộc vào chính quyền của thực dân Pháp ở Lào.

Sau nhiều năm truyền đạo, thăm dò nghiên cứu, khảo sát về cảnh quan địa lý, phong tục, tập quán, tìm hiểu về tình hình chính trị trên địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số tại Nam Tây Nguyên (địa bàn Nâm Nung và vùng lân cận), thực dân Pháp đã dùng lực lượng quân sự đánh chiếm, bình định và thống trị vùng này.

Khu khánh tiết và Tượng đài chiến thắng Khu di tích căn cứ kháng chiến B4 -  Liên tỉnh IV. Ảnh tư liệu

Năm 1905, thực dân Pháp chính thức bãi bỏ chế độ “Sơn phòng” của triều đình nhà Nguyễn, trực tiếp đảm nhiệm các vấn đề kinh tế, chính trị và an ninh trên địa bàn lãnh thổ các tỉnh Tây Nguyên.

Với chế độ thuế khóa của thực dân Pháp, hàng năm, mỗi người Ê đê, M’nông và các dân tộc khác ở Đắk Lắk phải nộp cho chính quyền thực dân một khoản tiền thuế thân và đi làm phu 20 ngày. Cùng với các loại thuế khác như thuế nóc nhà, thuế làm rẫy, thuế voi. Ngoài ra, chính quyền thực dân còn bày ra các chế độ phạt vạ đối với các dân tộc bản địa như: phạt làm hỏng đường sá, phạt làm hỏng các cây, chống lại chính quyền.

Đồng thời, thực dân Pháp đã khuyến khích tất cả các nhà nông nghiệp Pháp đầu tư vốn mở mang đồn điền cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su, tại những vùng đất rộng lớn trên địa bàn cư trú của người M’nông, Ê đê. Hàng chục đồn điền trồng cây công nghiệp của tư sản Pháp lần lượt được dựng lên như đồn điền Ca Đa, Đắk Nia, đồn điền lúa ở Nâm Kạ,… Quy mô các đồn điền này ngày càng mở rộng, tỷ lệ thuận với chế độ bắt xâu đối với đồng bào địa phương ngày càng ráo riết và tàn bạo.

Bên cạnh chính sách khai thác kinh tế, thực dân Pháp tập trung ở Tây Nguyên một lực lượng quân sự khá mạnh, ngay tại thị xã Buôn Ma Thuột có một trung đoàn lính khố đỏ (quân cơ động) thường trực là một quan năm (đại tá) chỉ huy và một tiểu đoàn lính khố xanh (quân địa phương) do một quan tư (thiếu tá) chỉ huy.

Năm 1899, thực dân Pháp đã thiết lập tòa Đại lý hành chính tại Bản Đôn (Buôn Đôn). Ngày 22/11/1904, tỉnh Đắk Lắk được chính thức thành lập, tỉnh lỵ đóng tại Buôn Ma Thuột. Từ đây, bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Pháp được thiết lập xuống tới các bon, buôn của đồng bào các dân tộc ở Nam Tây Nguyên với mục đích nhằm cắt đứt mọi liên lạc giữa vùng đồng bằng Việt Nam và miền sơn nguyên Nam Đông Dương, một số khu vực đã bình định ở bên kia sông Đắk Sal, Krông Nô sẽ được ngăn chặn nghiêm ngặt.

Cùng với việc cai trị về kinh tế, quân sự, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để hòng dễ cai trị vùng Tây Nguyên. Chúng chỉ mở một số trường sơ học bên cạnh một số trường Giáo phận dùng để truyền giáo. Ngoài ra, trên phương diện văn hóa, chúng chỉ thị các tỉnh trưởng Pháp có nhiệm vụ điều chế và góp nhặt tất cả những phong tục tập quán của người sơn cước.

Dưới chiêu bài “bảo vệ và phát triển các chủng tộc Thượng” hoặc “không đụng chạm đến văn hóa bản địa”, ngăn cấm đến mức tối đa sự tiếp xúc liên lạc giữa người sơn cước Việt Nam và người đồng bằng, thực dân Pháp đã tạo điều kiện duy trì và khuyến khích phục hồi những hủ tục, mê tín dị đoan trong nhân dân. Mặt khác, mọi sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, các vùng đều bị cấm.

Chính sách của Pháp trên các mặt trận chính trị - quân sự, kinh tế và văn hóa – xã hội đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của các dân tộc trên toàn miền sơn nguyên Nam Đông Dương. Trước nguy cơ bị một kẻ thù lớn mạnh cướp mất cuộc sống độc lập và tự do tổ tiên giữ được, các dân tộc miền sơn nguyên Nam Đông Dương hoặc lẻ tẻ, hoặc liên minh phối hợp với nhau vùng lên chống lại bọn xâm lược, đánh vào các đồn bót và cuộc hành quân của giặc; chống thuế, chống xâu, hay lánh cư, bất hợp tác, không phục tùng…

Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp trên địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung

Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của các dân tộc ở Tây Nguyên ngay từ khi thực dân Pháp vừa đặt chân đến vùng đất này đã diễn ra liên tục và mạnh mẽ. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo (1900-1914) và đỉnh cao là phong trào chống thực dân Pháp của đồng bào M’nông dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng kéo dài gần một phần tư thế kỷ (1912-1936).

N’Trang Gưh là người Bih (một nhóm của dân tộc Ê đê), quê ở buôn Choáh (nay thuộc buôn Choáh, xã Buôn Choáh, huyện Krông Nô). Không chịu khuất phục trước kẻ thù, năm 1900, N’Trang Gưh kêu gọi đồng bào Bih và các dân tộc anh em trong vùng nổi dậy đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược và bảo vệ quê hương.

Ngày 1/3/1900, quân Pháp đánh chiếm các buôn của người Bih dọc lưu vực sông Krông Nô và Krông Ana. Ở đây, ngoài sự hỗ trợ của lực lượng nghĩa quân do tù trưởng Y Kơn dẫn đầu, vị thủ lĩnh N’Trang Gưh đã lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, chuyển thế từ bị động sang chủ động, bao vây tên chỉ huy Pháp – Bourgeois, khiến hắn phải rút lui. Trên đường tháo chạy, quân Pháp đốt phá tàn trụi buôn Tur và Buôn Trấp (nay là thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk).

Hai ngày sau (3/3/1900), tên Bourgeois đem quân trở lại, vượt sông Krông Nô tiến đánh buôn Choáh. Đây không chỉ là cái nôi mà còn là trung tâm hoạt động trọng yếu của nghĩa quân. Do vậy, Bourgeois tập trung một lực lượng quân lớn xông vào đốt phá buôn Choáh, bắt, giết nhiều người vô tội. Sau nhiều đợt chống trả quyết liệt, biết không thể đánh nổi lực lượng hùng hậu của địch, để dưỡng binh và bảo toàn lực lượng, N’Trang Gưh và nghĩa quân đưa bà con trong buôn tạm lánh trong cánh rừng gần buôn Choáh hướng về phía Nam.

Sau một thời gian chỉnh đốn lực lượng, N’Trang Gưh cùng với nghĩa quân trở lại buôn Choáh, quyết tâm giải phóng buôn làng. Năm 1901, hơn 600 nghĩa quân dưới sự chỉ huy của N’Trang Gưh đã vượt sông Krông Nô tấn công, bao vây đồn buôn Tur, bắn hàng loạt tên vào đồn giặc, toàn bộ quân xâm lược bị tiêu diệt, tên đồn trưởng Bourgeois chết gục trước sân đồn, người cắm đầy tên.

Sự có mặt của lực lượng khởi nghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo cách Buôn Ma Thuột khoảng 15-30 km là mối đe dọa lớn đối với âm mưu đô hộ và bình định của thực dân xâm lược. Vì vậy, từ năm 1901 đến 1913, quân Pháp ở Buôn Ma Thuột liên tục mở nhiều cuộc hành quân khá quy mô, càn quét, đánh phá nghĩa quân, nhằm tiêu diệt và thôn tính phong trào đấu tranh yêu nước của người Ê đê, đặt ách cai trị và bóc lột vùng đất này. Nghĩa quân N’Trang Gưh đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ quê hương trong suốt 13 năm.

Trước sức kháng cự mạnh mẽ của phong trào khởi nghĩa N’Trang Gưh, thực dân Pháp đã huy động lực lượng quân sự mở nhiều cuộc hành quân quy mô lớn, quyết tâm tiêu diệt bằng được phong trào khởi nghĩa của N’Trang Gưh. Trước tình hình đó, năm 1913 N’Trang Gưh chỉ huy nghĩa quân cùng đồng bào buôn Choáh tạm lánh vào rừng. Cùng đi với nghĩa quân là 250 gia đình người Bih tiến vào phía Nam lưu vực sông Sêrêpốk, xây dựng buôn mới, tiếp tục cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp.

Năm 1914, giặc hành quân bao vây tấn công khu vực đóng quân của N’Trang Gưh. Trong tình thế tương quan lực lượng quá chênh lệch nên khu vực đóng quân của nghĩa quân N’Trang Gưh rơi vào tay giặc, chúng đã bắt và giết thủ lĩnh N’Trang Gưh. Sau khi N’Trang Gưh mất, phong trào đấu tranh đi vào thoái trào và kết thúc.

Phong trào yêu nước của Nghĩa quân N’Trang Gưh đã thực sự là ngòi nổ kích hoạt phong trào chống giặc giữ làng của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Phong trào khởi nghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo phát triển mạnh mẽ nhưng cuối cùng đã bị thất bại, thực dân Pháp ngày càng tăng cường thống trị Tây Nguyên. Tuy nhiên, tinh thần đấu tranh chống kẻ thù vẫn luôn bền bỉ, đợi thời cơ tiếp tục bùng lên đấu tranh. Chính vì vậy, khi thủ lĩnh N’Trang Lơng đứng lên đấu tranh, nhân dân các dân tộc trong vùng căn cứ Nâm Nung đã sẵn sàng đứng lên cùng đấu tranh chống kẻ thù xâm lược trong những năm 1912-1936.

N’Trang Lơng sinh khoảng năm 1870, gốc người M’nông Biêt. Từ khi đứng lên đánh Pháp, N’Trang Lơng đã tập hợp được nhiều thủ lĩnh, đầu làng của đồng bào các dân tộc như B’Heng Reng, R’Đing, R’Ong Leng, N’Xinh. Họ là những thủ lĩnh yêu nước, là những cánh tay đắc lực của N’Trang Lơng. N’Trang Lơng cùng các thủ lĩnh tiến hành xây dựng căn cứ địa kháng chiến tại thung lũng rừng già Bu Siết (tức B Jeng Kiet hay Bu Jang Chet) giáp ranh với Bu N’Drung ở thượng nguồn suối Buk Xô thuộc núi Nâm Nung. Đây là cơ quan đầu não của nghĩa quân, với lực lượng từ 150-170 tay súng. Phần lớn nghĩa quân là người M’nông Biêt và M’nông Nông do N’Trang Lơng trực tiếp chỉ huy. Họ xây dựng lán trại, kho lương, nhà chứa vũ khí, đào hầm, cắm chông gài bẫy xung quanh căn cứ. Bên cạnh căn cứ là những nương rẫy trồng lúa, bắp để thực hiện nhiệm vụ tự túc lương thực cho nghĩa quân chiến đấu.

Cuối năm 1908, Henri Maitre được chỉ định cầm đầu “Phái bộ khảo sát – hành chính Đông Cao Miên”. Hắn ra sức khủng bố giết chóc đồng bào Tây Nguyên, đàn áp buôn làng. Khi đánh phá quê hương N’Trang Lơng, Henri Maitre đã bắt bớ, hãm hiếp vợ và con gái ông. Để trả nợ nước, thù nhà, N’Trang Lơng đứng lên lãnh đạo nhân dân các dân tộc M’nông, Ê đê đấu tranh. Phong trào mở đầu bằng trận đánh đồn Pu Sra giành thắng lợi vào năm 1912. Chiến thắng Pu Sra làm nức lòng dân chúng và làm tên tuổi N’Trang Lơng vang dội khắp Tây Nguyên.

Vào mùa khô 1913-1914 trên cao nguyên M’nông, phong trào xây dựng làng chiến đấu chuẩn bị chống giặc diễn ra rầm rộ, đặc biệt trong nguồn sông Đắk Huich. Ngày 30/7/1914, N’Trang Lơng đã lập mưu, dựng nên lễ “kết minh” tiêu diệt tên Henri Maitre và đồng bọn của hắn. Ngày 31/7/1914, N’Trang Lơng lãnh đạo nghĩa quân tiến đánh đồn Bu Mêra, tiêu diệt toàn bộ lính và chỉ huy còn lại trong đồn, nghĩa quân thu toàn bộ vũ khí và đồ tiếp tế của địch.

Năm 1915, sau chiến thắng Bu Tiên, N’Trang Lơng cùng nghĩa quân tiếp tục giành nhiều chiến thắng. Vì thế, quân Pháp co hẳn về vùng châu thổ tỉnh Kratie – Cao Miên, lập một hành lang an toàn gồm các đồn do các đội khố xanh để chặn đường nghĩa quân đánh xuống vùng châu thổ. Cả một vùng M’nông rộng lớn thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp trong thời gian dài (1916-1927).

Năm 1928, thực dân Pháp lộ rõ âm mưu chính thức xâm chiếm trở lại cao nguyên M’nông, chúng tập trung ra sức tìm  diệt N’Trang Lơng. Trong những năm 1918-1934, phong trào khởi nghĩa do N’Trang Lơng lãnh đạo vẫn liên tục nổ ra, thách thức và chiến đấu chống thực dân Pháp quyết liệt.

Tháng 10/1931, tên Patkiê – toàn quyền Đông Dương và Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ đạo thực hiện kế hoạch tiêu diệt bằng được phong trào khởi nghĩa do N’Trang Lơng lãnh đạo. Trước tình thế bất lợi đó, để bảo toàn lực lượng, N’Trang Lơng cùng các thủ lĩnh quyết định rút quân về dãy núi Nâm Nung lập căn cứ kháng chiến. Tại đây, nghĩa quân đã xây dựng căn cứ kháng chiến, đào hầm chông, giếng chông làm bẫy đá, bẫy chông… tạo thành một địa bàn “bất khả xâm phạm”. Ngoài ra, nghĩa quân còn tham gia trồng trọt, tự túc về lương thực, thực phẩm, đồng thời làm điểm tụ quân, xuất quân đánh địch. Tại đây, N’Trang Lơng và các thủ lĩnh nghĩa quân đã kêu gọi đồng bào bản địa cùng tham gia kháng chiến, bỏ làng vào rừng, bất hợp tác với giặc Pháp. Đồng bào đã hăng hái, sẵn sàng tham gia cùng nghĩa quân N’Trang Lơng chiến đấu chống kẻ thù.

Trong hai tháng 2 và tháng 3/1933, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn, có pháo binh yểm trợ, từ nhiều hướng mở cuộc càn quét với quy mô lớn, tiến công vào căn cứ Nâm Nung – một trong những căn cứ quan trọng của nghĩa quân N’Trang Lơng. Cánh quân thứ nhất do tên Gerber chỉ huy, xuất phát từ Bu Đengum tiến đánh vào phía Đông núi Nâm Nung; cánh quân thứ hai, xuất phát từ căn cứ Lơrôlăng của Pháp (bên kia biên giới Campuchia) đánh vào hướng Tây Nam núi Nâm Nung; cánh quân thứ ba, xuất phát từ Bù Đốp (Đông Nam bộ) tiến đánh vào phía Nam núi Nâm Nung. Trong cuộc càn quét này, giặc Pháp vừa tấn công bằng quân sự, vừa đốt phá nương rẫy, buôn, bon và rừng núi của người M’nông tại vùng căn cứ Nâm Nung để triệt nguồn lương thực, nhằm dồn đồng bào M’nông và nghĩa quân N’Trang Lơng vào cảnh thiếu đói. Nghĩa quân N’Trang Lơng chống trả giặc Pháp rất quyết liệt. Nhiều trận đánh diễn ra tại vùng căn cứ Nâm Nung, tiêu diệt hàng trăm tên địch. Cuộc chiến giằng co, kéo dài, phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng vẫn liên tiếp đánh địch ở nhiều nơi.

Bước vào mùa khô 1934-1935, khắp cao nguyên M’nông, đồng bào M’nông, Ê đê và S’tiêng lại nổi lên rào làng, dấp rừng chống Pháp. Cuộc đối đầu ngày càng quyết liệt giữa nghĩa quân N’Trang Lơng và giặc Pháp. Giặc Pháp truy lùng ráo riết buộc nghĩa quân phải không ngừng di chuyển, nhưng khi giáp mặt với quân thù, nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng. Từ đầu tháng 5/1935, chúng tung quân ra sức truy lùng nghĩa quân N’Trang Lơng, bất chấp các cơn mưa đầu mùa xối xả, núi cao, rừng sâu. Trong hoàn cảnh đó, N’Trang Lơng tạm lánh về quê cũ, ẩn náu trong một vùng rừng gần Bu Par, chuẩn bị lực lượng tiếp tục chiến đấu chống kẻ thù. Tuy nhiên, do bị tên phản bộ Bơ Mpông Phê chỉ điểm và đưa quân Pháp đến bao vây. Tại đây, diễn ra trận chiến đấu, bất ngờ và không cân sức, ông bị quân Pháp bắn bị thương và mất ngày 23/5/1935.

N’Trang Lơng hi sinh, nghĩa quân của ông vẫn tiếp tục chiến đấu chống thực dân Pháp trên cao nguyên M’nông. Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng đi vào thoái trào và đánh dấu kết thúc vào năm 1936. Ảnh hưởng của phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên lại đứng lên đấu tranh chống kẻ thù. Kiên cường, bất khuất, phong trào này lắng xuống, phong trào khác lại nổi lên, người trước ngã người sau tiếp bước, cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên lúc sôi nổi, mãnh liệt, lúc tạm thời âm ỉ chờ thời cơ lại bùng lên với khí thế mạnh liệt hơn. Tuy nhiên, do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn, nên những cuộc đấu tranh đó vẫn chưa đưa lại kết quả thắng lợi cuối cùng.

(Còn nữa)

3,278
Viết bình luận mới
Thăm dò ý kiến

Một thời gian dài, tình trạng sạt lở do khai thác cát dọc sông Krông Nô, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất người dân. Trong khi đó, việc xử lý, khắc phục còn chưa triệt để. Theo bạn đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên?