Nét hấp dẫn, độc đáo của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Cập nhật ngày: 14/01/2021 | 09:09 GMT+7

Công viên địa chất toàn cầu (CVĐCTC) UNESCO Đắk Nông là nơi hội tụ của hơn 40 dân tộc anh em cùng nhau sinh sống và có bề dày lịch sử, văn hóa phong phú, đa dạng.

Trong quá trình sinh sống và phát triển, đồng bào các dân tộc đã tích lũy được tri thức bản địa về lao động, sản xuất, văn hóa và được lưu truyền qua các thế hệ.

Mỗi hang động, ngọn núi vùng CVĐCTC UNESCO Đắk Nông đều gắn liền với một truyền thuyết

Đối với đồng bào các dân tộc bản địa M’nông, Mạ, Ê đê, tri thức bản địa được đúc kết từ những kinh nghiệm thực tiễn như việc chọn đất canh tác, đất ở, nguồn nước, hình thành cách thức sản xuất và cảm nhận về thế giới quan.

Trong cuộc sống của đồng bào, rừng chiếm giữ một vị trí vô cùng quan trọng, nên họ luôn có kinh nghiệm trong việc nhận biết về rừng và khai thác rừng một cách hiệu quả. Kinh nghiệm đó được biểu hiện qua các yếu tố như phân loại rừng già và rừng chồi (người M’nông); rừng thiêng và rừng sản xuất (người Mạ); rừng đầu nguồn và rừng non (người Ê đê)…

Với những cánh rừng già, rừng thiêng, rừng đầu nguồn… được đồng bào xem là rừng thiêng nơi có nhiều cây gỗ to và là nơi trú ngụ của thần linh nên không được khai hoang phát rẫy canh tác. Trên cơ sở đó, đồng bào cũng đề ra những quy tắc khai thác rừng vừa bảo vệ rừng, ai vi phạm sẽ bị trừng phạt. Do đó, đồng bào thường khai phá, canh tác trên những cánh rừng mà già làng (người uy tín) khẳng định đủ tiêu chuẩn mà không sợ vi phạm bởi bất kỳ quy định nào trong luật tục.

Tri thức bản địa vùng CVĐCTC UNESCO Đắk Nông được đúc kết từ thực tiễn lao động, sản xuất

Đồng bào M’nông, Mạ, Ê đê thường dựa vào sức mạnh tập thể để khai phá, dựng nhà cửa trong bon. Sau khi đã xác lập được quyền làm chủ vùng đất, đồng bào thường dựng nhà cửa, canh tác, trồng trọt, săn bắt, hái lượm những sản vật từ rừng và thường gọi tên thần rừng, thần sông mỗi khi cúng tế…

Dựa trên những kinh nghiệm thực tiễn, đồng bào hình thành nên một hệ thống nghi lễ liên quan đến các hoạt động nông nghiệp; cách nhận biết về thời tiết thông qua những đặc điểm của tự nhiên, kinh nghiệm làm các nghề thủ công truyền thống; kiến thức về văn hóa dân gian, lễ hội; nhận biết về các loài cây, thời gian có thể trồng trọt trong điều kiện thời tiết và địa hình khác nhau; kinh nghiệm canh tác, chăn nuôi, chữa bệnh cho gia súc, gia cầm.

Đặc biệt trong mối quan hệ cộng đồng, tinh thần cố kết dân tộc luôn được đồng bào đề cao và xem đó là sức mạnh để xây dựng nên một bon làng giàu có. Mỗi khi trong bon có gia đình nào gặp hoạn nạn, hay khó khăn thì phải biết đoàn kết, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau.

Tất cả những tri thức bản địa này đều được phản ánh một cách chân thật qua sử thi M’nông (Ót N’drong) của người M’nông hay sử thi Ê đê (kể khan)… Đây là một trong những kho tàng văn hóa quý giá của cư dân bản địa vùng CVĐC Đắk Nông.

Bên cạnh những tri thức bản địa, những năm gần đây, đồng bào các dân tộc phía Bắc như Tày, Dao, Nùng, Mông, Thái… vào định cư lập nghiệp cũng đã mang theo một nguồn tri thức hết sức phong phú, đa dạng và bổ sung vào hệ thống tri thức của địa phương.

Kinh nghiệm trong tri thức nghề dệt truyền thống được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Theo Ban Quản lý CVĐCTC UNESCO Đắk Nông, một trong những tiêu chí của CVĐCTC UNESCO đó là việc lồng ghép kiến thức bản địa hay tri thức địa phương với tri thức hàn lâm khoa học trong công tác quy hoạch, quản lý và phát triển của một vùng.

Nếu như tri thức hàn lâm được hình thành thông qua môi trường giáo dục chuyên nghiệp mang tính nghiên cứu thì tri thức bản địa chủ yếu hình thành qua quá trình nhận thức và kinh nghiệm từ các hoạt động lao động sản xuất của con người khi tương tác với môi trường tự nhiên. Những kiến thức này được bổ sung hoàn thiện dần từ đời này qua đời khác, thông qua hình thức truyền miệng như ca hát, truyền thuyết…

Trong quá trình điền dã và nghiên cứu thực tế cho thấy, có rất nhiều di sản địa chất độc đáo trong vùng CVĐCTC UNESCO Đắk Nông được đồng bào các dân tộc M’nông, Mạ, Ê đê lý giải theo cách riêng của mình thông qua các truyền thuyết, sự tích như truyền thuyết về núi lửa Nâm Blang, Nâm Kle Rlúh, Nâm Kar, Chư R’lúh, Nâm Dơng, hồ Ea Snô…

Chính sự kết hợp giữa những kiến thức khoa học và kiến thức bản địa đã làm nên nét riêng hấp dẫn và độc đáo của CVĐCTC UNESCO Đắk Nông. Để xây dựng, khai thác hiệu quả CVĐCTC UNESCO, tỉnh Đắk Nông đang cần đến cả hai loại kiến thức: Dùng “kiến thức khoa học” để giải mã “kiến thức bản địa” và ngược lại, thông qua “kiến thức bản địa” để truyền tải “kiến thức khoa học” tới cộng đồng và du khách, qua đó để bảo tồn và phát huy giá trị tổng thể các loại hình di sản CVĐC một cách bền vững.

Bài, ảnh: Mỹ Hằng

6,108
Viết bình luận mới